Đáng chú ý
Người nuôi tôm kiếm tiền tỷ, biển oằn mình gánh... túi ni lông
Thủy triều rút, những mảng bùn đen ven vịnh Xuân Đài lộ ra cùng vô số túi ni lông mắc ken dày. Nước lên, sóng lại gom rác dạt vào bờ, có nơi chất thành từng đám trên bãi cát. Ngoài mặt vịnh, túi ni lông trôi lềnh bềnh, mắc vào lưới của ngư dân.
Khổ vì “phố nổi” nhấp nhô ở Vũng Rô
Ở Vũng Rô, phía sau những bè nuôi tôm hùm, cá bớp nhấp nhô như một “phố nổi” trên biển, túi ni lông, chai nhựa vẫn trôi trên mặt nước. Có lúc rác ni lông quấn vào chân vịt khiến ghe, ca nô chở khách phải dừng lại.

Đó là một góc khác tại những vùng nuôi tôm hùm, cá bớp lớn ở phía đông Đắk Lắk (Phú Yên cũ). Điều đáng nói, một phần rác đang bủa vây vùng biển này lại phát sinh từ chính hoạt động nuôi trồng thủy sản.
Những túi ni lông đựng cá tạp, cua, ốc sau khi đưa thức ăn xuống lồng tôm bị tiện tay ném xuống biển. Thức ăn tôm không ăn hết tiếp tục chìm xuống đáy. Rác và chất hữu cơ tích tụ không chỉ làm nhếch nhác cảnh quan mà còn gia tăng sức ép lên môi trường nước - nơi quyết định sự sống của hàng chục ngàn lồng tôm, cá và sinh kế của chính người nuôi.
Vịnh Xuân Đài rộng khoảng 13.000ha, trải dài từ Vũng Mắm, Vũng Dông, Vũng Chào, Vũng Sứ đến Vũng La. Quanh vịnh có nhiều bãi tắm, điểm đến du lịch, nhưng tại một số khu vực ven bờ, rác đã trở thành nỗi ám ảnh.
Ông Thái Văn Tâm, sống gần Vũng Lắm, nhiều năm đánh bắt cá trên vịnh Xuân Đài, kể có những lần thả lưới, túi ni lông mắc dày vào tay lưới. Gặp sóng lớn, rác bị nước kéo mạnh đến mức có nguy cơ làm rách lưới.
Có hôm kéo lưới lên, cá chẳng được bao nhiêu mà túi ni lông lại bám đầy.
Xem thêm: Bán hàng bằng chuyện giả, sao tin 'nông sản sạch' là thật?
Rác theo thức ăn cho tôm cá đổ xuống biển
Theo ông Tâm, một lượng túi ni lông trên vịnh phát sinh từ hoạt động nuôi tôm hùm.

Thức ăn cho tôm chủ yếu là cá tạp, cua, ốc tươi sống, được xe đông lạnh chở đến các điểm quanh vịnh. Từ bờ, chủ lồng bè dùng ghe, thúng đưa thức ăn ra khu vực nuôi.
Mỗi túi thức ăn nặng khoảng 10kg. Theo cách tính của người nuôi, một lồng khoảng 70 con tôm hùm có thể sử dụng khoảng 10kg thức ăn mỗi ngày. Một bè 30 lồng như vậy cần khoảng 300kg thức ăn, tương đương 30 túi ni lông.
Cho tôm ăn xong, nếu 30 chiếc túi ấy không được thu gom đưa trở lại bờ mà ném xuống biển thì chỉ một bè, mỗi ngày đã có hàng chục túi ni lông trở thành rác.

Không chỉ túi ni lông, thức ăn dư thừa cũng đang tạo thêm sức ép lên môi trường vùng nuôi.
Ông Nguyễn Văn Xuân, người có khoảng 10 năm nuôi tôm trên vịnh Xuân Đài, cho biết tôm hùm có giá trị cao nên người nuôi thường muốn tôm mau lớn. Một số hộ vì vậy tăng lượng thức ăn với suy nghĩ tôm ăn nhiều sẽ lớn nhanh.
Nhưng khi tôm không ăn hết, cá tạp, cua, ốc và các loại thức ăn tươi sống chìm xuống đáy. Chất hữu cơ tích tụ, cộng với nắng nóng và mật độ nuôi cao khiến môi trường nước càng chịu thêm áp lực.
Người nuôi muốn “thúc” tôm lớn nhanh, nhưng nếu thức ăn dư thừa làm môi trường suy giảm thì chính những con tôm trong lồng lại chịu hậu quả trước tiên.
Sự thật mất lòng phía sau những lòng bè
Ở Vũng Rô, xã Hòa Xuân, những nhà bè nuôi tôm, cá xen lẫn bè phục vụ du lịch tạo thành một “phố nổi” nhiều màu sắc trên mặt biển.
Nhưng phía sau khung cảnh ấy là túi ni lông, chai nhựa và rác sinh hoạt vẫn xuất hiện trên mặt nước.
Xem thêm: Lúa hột dài cho gạo thơm ngon, sao nông dân không trồng để bán?
Ông Phan Văn Cốm, người dân xã Hòa Xuân, cho biết người làm trên bè hằng ngày vào bờ mua thực phẩm, đồ dùng mang ra. Dưa cà, mắm muối đựng trong túi ni lông; chai nước rửa chén, vật dụng sinh hoạt sau khi sử dụng nếu không được gom lại cũng có thể bị ném xuống biển.
Vũng Rô ngoài tôm hùm còn có nhiều bè nuôi cá bớp. Cá cũng chủ yếu được cho ăn thức ăn tươi sống. Đồng nghĩa mỗi ngày có thêm một lượng lớn túi ni lông theo thức ăn từ bờ ra bè.

Vũng Rô còn là di tích lịch sử quốc gia, có khách đi ghe, ca nô tham quan rồi tiếp tục hành trình sang Hòn Nưa. Theo người dân địa phương, từng có trường hợp phương tiện phải dừng lại vì túi ni lông quấn vào chân vịt.
Rác vì thế không chỉ nằm dưới đáy biển hay dạt lên bờ. Nó đã ảnh hưởng đến hoạt động đánh bắt, giao thông trên biển và cảnh quan của một vùng có giá trị du lịch, lịch sử.
Nuôi tôm kiếm tiền tỉ, có lúc mất trắng vì môi trường
Theo UBND xã Hòa Xuân, khu vực nuôi lồng bè tại Vũng Rô chiếm khoảng 400ha mặt nước.
Chính quyền địa phương đã vận động các hộ nuôi trồng thủy sản thu gom rác đưa vào bờ, đồng thời yêu cầu xử lý hành vi thải bỏ chất thải nhựa, ni lông không đúng quy định.
Các chủ bè còn được vận động ký cam kết mang rác vào bờ và tự nguyện đóng góp kinh phí xã hội hóa việc thu gom.
Nhưng từ cam kết đến thay đổi thói quen vẫn còn khoảng cách.
Ông Trần Văn Lan, người nuôi tôm hùm ở Vũng Rô, cho biết ở những bè chủ quản lý chặt, người làm công sẽ gom túi ni lông vào sọt để đưa lên bờ. Nhưng khi chủ bè không thường xuyên có mặt, tình trạng cho tôm ăn xong rồi tiện tay ném túi xuống biển vẫn xảy ra.
“Vùng này gần đây mỗi năm nhiều người thu nhập hàng tỉ đồng từ nuôi tôm hùm, cá bớp. Còn trước đây có năm Vũng Rô ô nhiễm nguồn nước, tôm hùm, cá bớp chết, người nuôi mất trắng tiền tỉ”, ông Lan nói.

Tại vịnh Xuân Đài, sức ép lớn hơn nhiều khi khu vực này có gần 50.000 ô/lồng nuôi.
Theo số liệu ghi nhận được, mỗi ngày hơn 1.000 tấn thức ăn được đưa xuống vùng nuôi. Chia bình quân cho gần 50.000 ô/lồng, lượng thức ăn tương đương khoảng 20kg/ô-lồng/ngày.
Con số bình quân này bao gồm lượng thức ăn khác nhau tùy loại, kích cỡ tôm và từng giai đoạn nuôi. Nhưng nó cho thấy một điều rõ ràng: mỗi ngày có một khối lượng rất lớn thức ăn tươi sống được đưa từ bờ xuống vịnh, kéo theo lượng lớn bao bì ni lông.
Đó là chưa kể phần cá tạp, cua, ốc tôm không ăn hết chìm xuống đáy.
Cái giá của một vùng nuôi bị quá tải
Cuối tháng 5/2017, tôm hùm tại vịnh Xuân Đài chết hàng loạt. Số liệu tổng hợp được công bố đầu tháng 6/2017 cho thấy gần 400 tấn tôm hùm của 502 hộ nuôi bị chết, thiệt hại gần 700 tỉ đồng.
Đến tháng 5/2024, sự cố thủy sản chết lại xảy ra. Thống kê của chính quyền địa phương cho thấy 129 tấn tôm hùm và cá biển của 281 hộ nuôi bị chết. Thiệt hại khoảng 38,4 tỉ đồng.
Kết quả quan trắc trong vụ việc năm 2024 cho thấy hàm lượng oxy hòa tan tại các vùng nuôi có tôm, cá chết không phù hợp cho nuôi tôm hùm, cá biển. Số lượng lồng trên một đơn vị diện tích và mật độ thả nuôi quá dày làm khả năng lưu thông nước kém.
Mật độ lồng bè lớn, dòng nước lưu thông kém, cộng thêm lượng chất hữu cơ từ thức ăn dư thừa khiến sức chịu đựng của môi trường vùng nuôi ngày càng đáng lo ngại.
Sở NN&MT Đắk Lắk khuyến cáo địa phương và người nuôi chấm dứt xả rác xuống biển, đồng thời kiểm soát lượng thức ăn để hạn chế ô nhiễm nguồn nước.
Nhưng với một vùng nuôi có hàng chục ngàn ô/lồng, sẽ rất khó giải quyết ô nhiễm nếu chỉ trông chờ vào những đợt vận động hay thu gom rác.
Một chiếc túi ni lông được giữ lại trên bè rồi đưa vào bờ là chuyện đơn giản. Nhưng hàng ngàn chiếc túi bị ném xuống biển, ngày này qua ngày khác, lại là câu chuyện hoàn toàn khác.
Người nuôi tôm hùm, cá bớp sống nhờ nguồn nước. Giữ cho vùng biển không trở thành nơi chứa rác, vì thế, cũng chính là giữ sự sống cho những lồng tôm, cá và giữ lấy sinh kế của mình.

