Mật mía quê mùa bước ra thế giới: chuyện hoang đường?
Khi diện tích mía Quảng Ngãi chỉ còn một phần rất nhỏ so với thời hoàng kim, Nguyễn Thị Thu Thủy bỏ nghề quản lý khách sạn, tìm đến từng hộ dân vận động họ trồng lại cây mía. Từ những mẻ mật phải đổ bỏ, chị cùng nông dân gây dựng vùng nguyên liệu, đưa vị ngọt quê nhà sang Australia, New Zealand và nhiều thị trường khác.

Giữa trưa nắng trên cánh đồng phía nam sông Trà Khúc, chị Nguyễn Thị Thu Thủy nói với bà Nguyễn Thị Liên về kế hoạch tìm thêm đất mở rộng vùng nguyên liệu.
Cuộc trò chuyện ấy gợi nhắc hành trình mà chỉ vài năm trước, chính họ cũng không nghĩ sẽ có ngày trở thành hiện thực.
Vài năm trước, ý nghĩ đưa mật mía Quảng Ngãi ra thế giới gần như... hoang đường.
Năm 2021, nghề trồng mía ở Quảng Ngãi đang thoái trào. Trên vùng đất từng gắn với câu ca “Chim mía Xuân Phổ, cá bống sông Trà, kẹo gương Thu Xà, mạch nha Mộ Đức”, những cánh đồng mía bạt ngàn đã dần nhường chỗ cho keo và mì vì giá mía bấp bênh.
Từ vị trí một trong những vùng mía đường lớn của cả nước, với diện tích thời hoàng kim hơn 10.000ha, mía Quảng Ngãi khi ấy chỉ còn khoảng 380ha. Nhà máy đường cũng đã chuyển lên Gia Lai để phát triển vùng nguyên liệu mới.
Giữa lúc cây mía bị nông dân quay lưng, chị Thủy lại chọn cách đi ngược dòng.
Nhớ lại quyết định ấy, chị gọi đó là một lần “đâm đầu vào đá”.
Đi tìm vị ngọt mật mía đã mất
Chị Thủy quê xã Tịnh Kỳ, miền biển Quảng Ngãi. Sau thời gian học tập và làm việc tại TP.HCM, chị cùng chồng trở về quê năm 2016, khi hai con còn nhỏ. Chị muốn các con được lớn lên gần gia đình, giữa thiên nhiên thay vì trong bốn bức tường đô thị.

Chị tiếp tục làm công việc quản lý khách sạn trên đảo Lý Sơn cho đến khi đại dịch Covid-19 khiến du lịch gần như đóng băng. Khoảng lặng bất đắc dĩ ấy trở thành bước ngoặt.
Hai vợ chồng bắt đầu tìm hiểu các sản vật địa phương, từ tỏi, quế đến ớt, với mong muốn chọn một sản phẩm để khởi nghiệp.
Sau nhiều lần cân nhắc, cả hai nhận ra cây mía có thể phát triển theo hướng hữu cơ, ít sử dụng hóa chất và phù hợp với điều kiện canh tác của nhiều vùng đất.
Nhưng điều thôi thúc chị trở lại với cây mía không chỉ nằm ở tiềm năng thị trường. Trong ký ức chị vẫn còn nguyên mùi thơm từ những lò nấu đường ngày trước. Thời đó, người Quảng Ngãi dùng mật mía để nhúng bánh tráng, chấm khoai, pha thức uống, làm gia vị. Chị muốn làm ra một sản phẩm có thể giữ lại hương vị ấy.
Đi qua những vùng từng nổi tiếng với nghề đường mía như Nghĩa Dũng, Nghĩa Dõng, chị chỉ còn thấy vài lò nấu đường phèn từ đường tinh luyện. Những lò mật truyền thống hiếm hoi cũng ít khi nổi lửa.
“Nếu không ai làm, có lẽ vài năm nữa nghề này chỉ còn trong ký ức”, chị nghĩ.
Nhưng muốn giữ nghề, trước hết phải có người trồng mía.
Nghĩ là làm, chị gõ cửa từng nhà, vận động nông dân quay lại với cây mía. Đáp lại phần lớn là những cái lắc đầu.
“Làm không được đâu con ơi, bán không được đâu con ơi”, nhiều người nói.
Sau nhiều lần thất bại, chị được mách tìm đến bà Nguyễn Thị Liên ở xã Nghĩa Thắng, nay là xã Nghĩa Giang. Bà Liên là một trong số ít người vẫn giữ ruộng mía dù đầu ra bấp bênh.
Bà kể về cây mía như nói về một người thân. Nhờ cây mía, gia đình bà từng dựng được nhà, nuôi các con ăn học. Vì thế, dù mỗi vụ phải chở mía đi nơi khác bán, có khi còn lỗ, bà vẫn không nỡ bỏ.
Khi nghe chị Thủy nói sẽ mở xưởng và bao tiêu sản phẩm, bà Liên lập tức đồng ý, rồi giới thiệu thêm những hộ nông dân khác. Từ những người còn nặng lòng với cây mía, một vùng nguyên liệu mới dần hình thành.
Giữ nghề cũ bằng cách làm mới
Có mía mới chỉ là bước đầu.
Chị Thủy cùng những người cộng sự mở một lò nhỏ để thử nấu mật. Không ít mẻ đầu tiên phải đổ bỏ vì không đạt chất lượng.
Nghề nấu mật nhìn qua tưởng đơn giản, nhưng phía sau là kinh nghiệm tích lũy qua nhiều thế hệ. Từ cách xây lò, giữ lửa, chọn chảo, lọc nước mía và xác định đúng thời điểm cô đặc. Chỉ cần sai một công đoạn, mật có thể khét, đắng, không giữ được hương vị.
Có lúc tiền gần cạn, tinh thần xuống, chị từng nghĩ đến chuyện dừng lại.

Nhưng sản phẩm bắt đầu được khách hàng biết đến qua mạng xã hội. Những phản hồi đầu tiên giúp chị điều chỉnh công thức, đồng thời kết nối với những người có kinh nghiệm và cùng quan tâm đến sản phẩm truyền thống.
Trong quá trình ấy, chị nhận ra một điều: muốn nghề cũ tồn tại thì không thể chỉ làm theo cách cũ.
Người tiêu dùng hiện đại không chỉ cần một chai mật mang hương vị ký ức. Họ còn đòi hỏi sản phẩm phải an toàn, quy trình minh bạch và có thể truy xuất nguồn gốc.
Sự ra đời của Mật mía Miền Xanh
Từ lò nhỏ ban đầu, doanh nghiệp đầu tư nhà xưởng tại xã Nghĩa Giang với tổng vốn 3,5 tỷ đồng, đạt chứng nhận hệ thống quản lý an toàn thực phẩm ISO 22000 và HACCP (Hệ thống phân tích mối nguy và kiểm soát các điểm tới hạn trong quá trình sản xuất thực phẩm).

Mía sau thu hoạch được làm sạch, ép bằng máy, lọc qua nhiều lớp rồi nấu bằng phương pháp thủ công kết hợp công nghệ cô đặc chân không.
Cách làm mới không loại bỏ hoàn toàn phương pháp truyền thống. Hệ thống nấu điện được vận hành song song với lò dùng bã mía làm chất đốt, nhằm giữ hương vị đặc trưng của mật mía nhưng từng bước kiểm soát chất lượng và giảm tác động đến môi trường.
Một vòng tuần hoàn trên đồng mía
Từ đầu, chị Thủy không muốn xây dựng một cơ sở chỉ mua mía, nấu mật rồi bán sản phẩm.
Chị hướng đến một mô hình sản xuất xanh và tuần hoàn, trong đó phần bỏ đi của công đoạn này trở thành đầu vào cho công đoạn khác.
Bã mía sau ép không bị xem là phế phẩm mà được dùng làm nhiên liệu cho lò nấu. Tro sau mỗi mẻ tiếp tục được đưa trở lại đồng ruộng để cải tạo đất, nuôi dưỡng những vụ mía tiếp theo.

“Thiên nhiên rất công bằng. Chúng ta lấy đi điều gì thì cũng nên tìm cách trả lại”, chị nói.
Với chị, đó không chỉ là một quy trình sản xuất mà còn là lựa chọn về cách sống và làm nghề.
Từ vài hecta ban đầu, vùng nguyên liệu liên kết hiện đã mở rộng lên hơn 20ha. Riêng bà Liên tăng diện tích từ 0,7ha lên 3,5ha.
Khoảng 20 hộ dân đang liên kết với doanh nghiệp, được bao tiêu mía với giá 1.300 - 1.500 đồng mỗi kg, gần gấp đôi so với giai đoạn 2017 - 2018. Thu nhập của nông dân đạt khoảng 40 - 50 triệu đồng mỗi hecta trong năm đầu và 60 - 70 triệu đồng từ năm thứ hai.
Đầu ra ổn định giúp cây mía từng bị bỏ lại bắt đầu trở về trên những cánh đồng phía Nam sông Trà Khúc.

Những con số mang "vị ngọt" của mía
Mỗi tháng, nhà xưởng chế biến khoảng 100 - 150 tấn mía tươi, sản xuất 10 - 15 tấn mật thành phẩm. Sản phẩm có mặt tại hơn 200 đại lý, cửa hàng trong nước, vào một số hệ thống siêu thị, đạt chứng nhận OCOP và được xuất khẩu sang Đài Loan, New Zealand, Australia, Philippines.
Doanh thu năm 2024 đạt hơn 2 tỷ đồng, tăng lên khoảng 4 tỷ đồng vào năm 2025. Doanh nghiệp đặt mục tiêu đạt 7 tỷ đồng trong năm 2026.
Năm 2024, chị Thủy giành giải nhất Cuộc thi Khởi nghiệp đổi mới sáng tạo tỉnh Quảng Ngãi. Nhưng với chị, thành quả lớn nhất không nằm ở giải thưởng, doanh thu hay số thị trường xuất khẩu.
“Điều tôi tự hào nhất là mình vẫn giữ được niềm tin ban đầu: làm điều đúng, làm bằng sự tử tế và luôn nghĩ đến lợi ích lâu dài”, chị nói.
Câu chuyện của Mật mía Miền Xanh không chỉ là hành trình đưa một đặc sản địa phương ra thị trường thế giới. Điều đáng quý là một chuỗi giá trị mới đã được gây dựng từ cây trồng từng bị nông dân quay lưng. Người trồng có đầu ra ổn định. Nghề nấu mật được giữ lại. Phế phẩm được quay vòng và sản phẩm truyền thống được chuẩn hóa để bước vào thị trường hiện đại.
Trên cánh đồng từng “vang bóng” với tên gọi Xuân Phổ, cây mía chưa thể trở lại thời hoàng kim. Nhưng những ruộng mía vẫn đang được mở rộng sau mỗi vụ. Vị ngọt đang dần hồi sinh, không chỉ nhờ ký ức, mà bằng một mô hình sản xuất được bảo chứng bởi thị trường và tiêu chuẩn…
Mô hình ấy, còn biết cách trả lại cho đất những gì từng đã lấy đi.


