Tư duy đa tầng trên đại dương: Vận hội mới của quốc gia hướng biển | KỲ 3
Nghị quyết về chiến lược phát triển bền vững kinh tế biển đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 đã vạch rõ mục tiêu: Việt Nam phải trở thành quốc gia mạnh về biển, giàu lên từ biển.
Việc vươn ra biển hôm nay không còn dừng lại ở ý nghĩa chủ quyền, mà mở ra một không gian sinh tồn, một không gian phát triển kinh tế đa tầng, đa giá trị.
Bài toán đặt ra lúc này, không còn là sản lượng khai thác mà là cách tạo ra giá trị. Đã đến lúc kinh tế biển cần một cuộc cách mạng tư duy đa tầng: chuyển từ khai thác thô sang tích hợp không gian; từ đánh bắt truyền thống sang nuôi biển công nghệ cao, năng lượng tái tạo và dịch vụ hàng hải xanh.
Loạt bài 3 kỳ của Nông thôn Việt sẽ nhận diện bức tranh chuyển mình lịch sử này từ tầm nhìn chính sách, xung lực công nghệ cho đến những cơ chế đột phá đặt con người làm trung tâm.
Kỳ 1: Phòng tuyến chủ quyền và không gian sinh tồn đa tầng
Kỳ 2: Cuộc cách mạng xanh và công nghệ trên biển
Kỳ 3: Cơ chế đặc thù và bài toán đặt con người làm trung tâm

KỲ 3: Cơ chế đặc thù và bài toán đặt con người làm trung tâm
Mọi chiến lược vươn khơi, dù sở hữu công nghệ tối tân hay dòng vốn hàng tỷ USD, sẽ đều trở nên vô nghĩa nếu tách rời một mục tiêu cốt lõi: Sinh kế trường tồn của cư dân và sự bền vững của bờ cõi. Bước vào giai đoạn phát triển mới, Việt Nam không chỉ cần thêm những hạ tầng kỹ thuật. Ta cần một tư duy lập quy đột phá để cởi trói cho các nguồn lực nội tại, biến những áp lực từ thiên tai thành dư địa tăng trưởng thông qua các mô hình lấn biển sinh thái và mạng lưới siêu cảng xanh kết nối toàn cầu.
Sòng phẳng với thách thức và bài toán lấn biển sinh thái
Nhìn thẳng vào thực tế, hành trình ra biển lớn của Việt Nam đang bị bó buộc bởi những nút thắt hạ tầng và cơ chế. Mạng lưới dịch vụ xã hội, y tế, giáo dục tại các vùng ven bờ và hải đảo chưa đủ đồng bộ để giữ chân nguồn nhân lực chất lượng.
Cùng lúc đó, tác động của biến đổi khí hậu hiện hữu rõ rệt. Những dải bờ biển sạt lở. Những đợt xâm thực mặn khốc liệt tại Đồng bằng sông Cửu Long và miền Trung.
Đáng nói hơn, hành lang pháp lý hiện hành vẫn thiếu độ mở. Chưa được cơ chế đặc thù đủ mạnh để kích hoạt dòng vốn vào hạ tầng biển quy mô lớn.
Giải pháp lúc này không nằm ở tư duy ứng phó bị động, co cụm. Nó đòi hỏi chiến lược chủ động cải tạo, bồi đắp tại những vùng ven bờ. Đặc biệt là những nơi hạn chế cảnh quan hoặc các đảo đá hoang sơ.
Những địa phương đi đầu đã chứng minh không gian phát triển không phải là một đại lượng cố định. Nó hoàn toàn có thể mở rộng nếu có năng lực quản trị tốt. Những khu đô thị lấn biển tại Rạch Giá (Kiên Giang), hay trục đường bao biển kết hợp đô thị hiện đại tại Hạ Long, Cẩm Phả (Quảng Ninh) và Hải Phòng là những minh chứng sống động.

Cần phải sòng phẳng: lấn biển sinh thái khác hoàn toàn với việc đổ đất đá triệt hạ tự nhiên. Bằng công nghệ đê kè kỹ thuật cao và tầm nhìn quy hoạch dài hạn, đây là quá trình tái định hình bờ biển để chung sống với tương lai. Các dự án này một mặt tạo ra quỹ đất đô thị, dịch vụ giá trị cao. Mặt khác chủ động kiến tạo lại hệ sinh thái bằng dải công viên rừng ngập mặn nhân tạo. Chính những cánh rừng này sẽ trở thành lá chắn xanh vững chắc. Biến đầm lầy cằn cỗi thành hệ thống phòng thủ trước nạn nước biển dâng. Từ đó, bảo vệ vùng nội địa phía trong.
"Siêu cảng xanh" kết nối toàn cầu và an sinh cư dân biển
Tầm nhìn kinh tế đại dương định hướng bứt phá các ngành logistics hàng hải và du lịch cao cấp. Nhưng cái lõi của chính sách phải quay về bảo đảm đời sống cho cộng đồng ven biển.
Trên bình diện quốc gia, các siêu dự án hạ tầng đang hình thành chính là những mắt xích định vị lại vị thế Việt Nam trên trục hàng hải quốc tế trung tâm qua Biển Đông. Tiêu biểu là dự án Cảng trung chuyển quốc tế Cần Giờ (TP.HCM) với quy mô vốn 5,5 tỷ USD, năng lực đón siêu tàu container đến 250.000 DWT. Hay cảng Liên Chiểu (Đà Nẵng) không thuần túy là những khối bê tông cốt thép. Đó là những "siêu cảng xanh" vận hành bằng năng lượng sạch và dòng chảy dữ liệu số. Tạo lực hút kéo chuỗi cung ứng toàn cầu dịch chuyển về phía bờ biển Việt Nam.
Tuy nhiên, sự thịnh vượng của những siêu cảng hay các tổ hợp kinh tế sẽ lệch nhịp nếu dòng vốn đầu tư không chạm đến những phận người nghèo khó đời đời bám biển. Triết lý phát triển bền vững bắt buộc phải đi liền với những chính sách chuyển đổi nhân văn. Phải hiện thực hóa mục tiêu "ly nông bất ly hải". Giúp người dân ngừng khai thác cạn kiệt nhưng không bị bật bãi khỏi đại dương.
Các đề án chuyển đổi nghề nghiệp tại Khánh Hòa, Quảng Ninh, Phú Quốc đang đi đúng hướng. Thay vì để ngư dân tiếp tục dùng lưới cào, thuốc nổ đánh bắt tận diệt vùng lộng. Nhà nước hỗ trợ vốn, chuyển giao kỹ thuật. Từ đó, họ chuyển sang nuôi biển công nghiệp bằng lồng nhựa HDPE ngoài khơi xa. Đồng thời, hàng nghìn lao động biển được đào tạo để đổi nghề. Họ trở thành hướng dẫn viên du lịch sinh thái, nhân sự lặn biển bảo tồn rạn san hô. Họ, vốn là người khai thác trực tiếp, đã trở thành lực lượng bảo vệ nguồn lợi đại dương.

Thiết lập chuỗi giá trị khép kín
Bên cạnh đó, các địa phương phải thiết lập được chuỗi giá trị khép kín từ đánh bắt đến chế biến. Đây là con đường phải đạt được. Để chấm dứt nạn sản phẩm nổi trôi làm thất thoát giá trị, ảnh hưởng người tiêu dùng.
Hộ cá thể không đứng ra làm được việc này. Mà đó phải là các HTX đánh bắt kiểu mới. Các doanh nghiệp phải bắt tay với ngư dân để thực hiện. Đó là cơ sở để khi cần là truy xuất được nguồn gốc ngay. Lại đảm bảo quyền lợi của ngư dân khi gặp biến động thị trường, thời tiết…
Quyền lợi của người dân phải gắn chặt với sự sống còn của hệ sinh thái. Khi đó, dòng chảy kinh tế biển mới thực sự đạt được trạng thái cân bằng.
Rõ ràng, đường đi tới thịnh vượng của một quốc gia hướng biển không thể men theo những lối mòn. Từ việc giữ từng cột mốc chủ quyền, từng dải lồng nuôi, đến cuộc số hóa dưới lòng biển. Từ tư duy tuần hoàn, biến phế phẩm thành tài nguyên. Đến những dự án lấn biển sinh thái và mạng lưới siêu cảng kết nối năm châu. Tất cả đang ráp lại thành một diện mạo mới, mạnh mẽ và thực chất hơn.
Trong dòng chảy của thế kỷ đại dương, mục tiêu chiến lược năm 2030 và tầm nhìn 2045 sẽ chỉ cán đích khi tư duy đa tầng được đồng bộ từ thể chế, công nghệ cho đến lòng dân. Khi mỗi người dân chài yên tâm với sinh kế xanh, khi mỗi hải lý không gian được khai thác bằng trí tuệ và sự tôn trọng tự nhiên, đó là lúc Việt Nam thực sự làm chủ tương lai giàu mạnh từ biển. Đại dương đang mở ra vận hội, và con tàu Việt Nam phải tự quyết định tốc độ rẽ sóng của chính mình.
(*) Chủ tịch Hội đồng quản trị Tập đoàn Nam Miền Trung
