Thị trường nông sản 4/11: Cà phê nội địa lẫn quốc tế suy yếu, sầu riêng và cao su phân hóa
Phiên giao dịch sáng 4/11 ghi nhận giá gạo nguyên liệu khởi sắc, trái ngược với nhịp giảm của cà phê trong nước và quốc tế. Trong khi đó, giá hồ tiêu và mủ cao su nội địa tiếp tục giữ nhịp ổn định, còn sầu riêng biến động trái chiều giữa các khu vực thu mua.
Cà phê giảm nhẹ tại nội địa, sắc đỏ bao trùm sàn quốc tế
Thị trường nông sản sáng 4/11 cho thấy, giá cà phê nhân xô tại các vùng trọng điểm Tây Nguyên dao động trong khoảng 84.000 đến 84.500 đồng/kg, giảm nhẹ so với lần cập nhật trước.
Cập nhật từ giacaphe.com cho thấy, tại Đắk Lắk và khu vực Đắk Nông (nay thuộc Lâm Đồng) đang thu mua cà phê ở mức 84.500 đồng/kg.
Tại Gia Lai, sau khi điều chỉnh giảm 200 đồng/kg, giá thu mua cũng lùi về mốc 84.500 đồng/kg.
Còn tại khu vực Lâm Đồng cũ hiện cũng ghi nhận mức giảm 200 đồng/kg, đưa giá giao dịch xuống còn 84.000 đồng/kg. Đây cũng là mức giá thấp nhất tại Tây Nguyên.
Trên thị trường thế giới, đóng cửa phiên giao dịch hôm qua, giá cà phê trực tuyến trên cả hai sàn London và New York đồng loạt đảo chiều giảm.
Cụ thể, tại sàn London, hợp đồng cà phê robusta giao kỳ hạn tháng 11/2026 giảm 0,95%, tương đương mất 31 USD/tấn so với phiên trước, xuống còn 3.225 USD/tấn. Kỳ hạn giao tháng 1/2027 cũng giảm 0,96%, tức giảm 31 USD/tấn để lùi về mức 3.210 USD/tấn.
Đà suy yếu diễn ra mạnh hơn trên sàn giao dịch New York đối với mặt hàng cà phê arabica. Hợp đồng giao kỳ hạn tháng 12/2026 mất tới 2,79%, tương đương giảm 8,15 US cent/pound, rơi xuống mức 283,95 US cent/pound.
Theo dữ liệu phân tích từ BarChart, đà giảm của giá cà phê trong phiên thứ Ba bắt nguồn từ sự suy yếu của đồng nội tệ Brazil.
Đồng real đã giảm 1% so với đồng USD, chỉ đứng cao hơn đôi chút so với mức đáy của 10,25 tháng được thiết lập vào đầu tuần trước.
Bên cạnh đó, mặt hàng robusta còn chịu sức ép trực tiếp từ báo cáo xuất khẩu tăng vọt của Việt Nam, quốc gia sản xuất robusta lớn nhất thế giới.
Ngoài ra, theo số liệu vừa được Cục Thống kê Việt Nam công bố, lượng xuất khẩu cà phê trong tháng 10 đạt 114.000 tấn, tăng tới 61% so với cùng kỳ năm ngoái.
Lũy kế 10 tháng đầu năm 2026, tổng lượng cà phê xuất khẩu của Việt Nam đạt 1,57 triệu tấn, tăng 18,8% so với cùng kỳ năm trước, nối tiếp đà tăng trưởng 17,5% với 1,58 triệu tấn của cả năm 2025.

Hồ tiêu tiếp tục giữ nhịp đi ngang ở cả thị trường nội địa và quốc tế
Khác với sự điều chỉnh của cà phê, thị trường hồ tiêu trong nước sáng 4/11 tiếp tục duy trì trạng thái ổn định tại các vùng sản xuất trọng điểm.
Theo giatieu.com, Đắk Lắk hiện là địa phương có mức thu mua cao nhất cả nước khi neo ở ngưỡng 136.500 đồng/kg. Bám sát phía sau là khu vực Đắk Nông (nay thuộc Lâm Đồng) với mức giá 135.500 đồng/kg.
Tại khu vực Bà Rịa - Vũng Tàu (nay thuộc TP.HCM), thương lái tiếp tục thu mua hồ tiêu ở mức 134.500 đồng/kg. Trong khi đó, hai khu vực Gia Lai và Đồng Nai cùng giữ mức giá thấp nhất khảo sát là 134.000 đồng/kg.
Trên bình diện quốc tế, giá hồ tiêu tại các quốc gia xuất khẩu lớn hiện cũng giữ nhịp đi ngang.
Số liệu từ Cộng đồng Hồ tiêu Quốc tế cho thấy, giá tiêu đen Indonesia đang được niêm yết ở mức 6.800 USD/tấn.
Tiêu đen ASTA 570 của Brazil duy trì mức giá cạnh tranh nhất trong nhóm khảo sát với 5.700 USD/tấn, ngược lại tiêu đen Malaysia giữ vị trí đắt đỏ nhất ở mức 9.100 USD/tấn.
Tại Việt Nam, giá tiêu đen xuất khẩu loại 500 g/l ổn định ở mức 5.950 USD/tấn và loại 550 g/l đạt 5.995 USD/tấn.
Ở phân khúc tiêu trắng, sản phẩm Muntok của Indonesia ghi nhận mức giá 9.286 USD/tấn. Tiêu trắng Malaysia neo cao ở ngưỡng 12.000 USD/tấn. Còn tiêu trắng xuất khẩu của Việt Nam duy trì vững chắc tại mốc 8.450 USD/tấn.
Thị trường nông sản ghi nhận giá lúa gạo nguyên liệu bật tăng nhẹ
Theo khảo sát từ một số nguồn và luagaoviet.com, sáng nay thị trường lúa gạo tại khu vực ĐBSCL chứng kiến sự khởi sắc rõ nét ở phân khúc gạo nguyên liệu.
Đáng chú ý, giá gạo nguyên liệu xuất khẩu IR 504 và CL 555 đồng loạt tăng mạnh 250 đồng/kg, cùng vươn lên vùng giá 9.350 đến 9.450 đồng/kg.
Các dòng gạo nguyên liệu khác duy trì mặt bằng giá tốt, trong đó gạo OM 5451 dao động từ 9.300 đến 9.400 đồng/kg. Đài Thơm 8 đạt 9.200 đến 9.400 đồng/kg. OM 18 ở mức 8.700 đến 8.850 đồng/kg.
Đối với mặt hàng lúa tươi, giao dịch lúa vụ Thu Đông tại các địa phương nhìn chung còn hạn chế do nông dân có tâm lý neo giá cao, thúc đẩy mặt bằng giá nhích nhẹ.
Hiện lúa tươi DS1 dẫn đầu về giá khi dao động từ 6.800 đến 7.000 đồng/kg. Lúa tươi Đài Thơm 8 và OM 18 cùng giữ mốc 6.500 đến 6.800 đồng/kg.
Các giống lúa tươi IR 50404 dao động từ 6.000 đến 6.300 đồng/kg, OM 5451 đạt 6.000 đến 6.200 đồng/kg. OM 34 ở mức 5.900 đến 6.100 đồng/kg.
Tại thị trường xuất khẩu, theo Hiệp hội Lương thực Việt Nam, giá gạo xuất khẩu của Việt Nam giữ nguyên so với phiên hôm qua.
Gạo Jasmine hiện được chào bán ở mức 535 đến 539 USD/tấn, gạo thơm 5% tấm dao động từ 500 đến 515 USD/tấn. Gạo thơm 100% tấm đạt 390 đến 394 USD/tấn.
Cùng thời điểm, gạo 5% tấm của Thái Lan được giao dịch ở mức 475 đến 479 USD/tấn và gạo 100% tấm từ 407 đến 411 USD/tấn.
Còn tại Ấn Độ, dòng gạo 5% tấm dao động từ 385 đến 389 USD/tấn, còn gạo 100% tấm ở mức 330 đến 334 USD/tấn.
Sầu riêng tiếp tục biến động trái chiều
Thị trường sầu riêng sáng 4/11 ghi nhận sự phân hóa giữa các vùng trồng trọng điểm.
Khảo sát từ một số kho thu mua và giasaurieng.net cho thấy, giá sầu riêng Thái loại A tại Đắk Lắk điều chỉnh giảm về mức trần 97.000 đồng/kg. Lâm Đồng nhích nhẹ, thì mặt bằng giá tại ĐBSCL và Gia Lai vẫn giữ nhịp ổn định.
Cụ thể, tại khu vực ĐBSCL, sầu riêng Thái loại A được thu mua ở mức 93.000 đến 97.000 đồng/kg, loại B dao động từ 73.000 đến 77.000 đồng/kg. Đối với giống Ri6, hàng loại A tại đây vẫn giữ được mức giá cao từ 79.000 đến 83.000 đồng/kg, loại B đạt 64.000 đến 68.000 đồng/kg.
Ở khu vực Tây Nguyên, thủ phủ Đắk Lắk ghi nhận biên độ dao động rộng đối với sầu riêng Thái loại A từ 80.000 đến 97.000 đồng/kg, loại B từ 63.000 đến 67.000 đồng/kg. Sầu riêng Ri6 tại Đắk Lắk có giá khá thấp, chỉ đạt 35.000 đồng/kg cho loại A và 25.000 đồng/kg cho loại B.
Tại Gia Lai, thương lái thu mua sầu riêng Thái loại A ở mức 95.000 đồng/kg, loại B từ 71.000 đến 75.000 đồng/kg. Sầu riêng Ri6 loại A giữ mức 35.000 đồng/kg và loại B là 20.000 đồng/kg.
Còn tại Lâm Đồng, sầu riêng Thái loại A tại đây chỉ ở mức 86.000 đồng/kg, loại B đạt 68.000 đồng/kg. Giống Chuồng Bò dao động từ 50.000 đến 70.000 đồng/kg cho loại B và loại A.
Còn sầu riêng Musang King tại đây hiện được thu mua ở mức 150.000 đồng/kg đối với loại A và 130.000 đồng/kg cho loại B. Sầu riêng Black Thorn với mức giá loại A lên tới 155.000 đồng/kg và loại B đạt 135.000 đồng/kg.
Cao su trong nước bình ổn, các sàn châu Á phân hóa rõ rệt
Giá thu mua mủ cao su tại thị trường nội địa sáng 4/11 tiếp tục duy trì sự ổn định tại các doanh nghiệp lớn.
Cụ thể, tại Công ty Cao su Mang Yang niêm yết giá mủ nước loại 1 ở mức 463 đồng/TSC/kg và loại 2 là 458 đồng/TSC/kg. Tại Công ty Cao su Phú Riềng, giá mủ nước duy trì ở mức 420 đồng/TSC/kg và mủ tạp đạt 390 đồng/DRC/kg.
Công ty Cao su Bà Rịa tiếp, đối với mủ nước, mức 1 có giá 452 đồng/độ TSC/kg áp dụng cho độ TSC từ 30 trở lên, mức 2 đạt 447 đồng/độ TSC/kg cho độ TSC từ 25 đến dưới 30.
Trên thị trường quốc tế, các sàn giao dịch cao su lớn tại châu Á bước vào phiên giao dịch với xu hướng phân hóa sâu sắc.
Tại Nhật Bản, giá cao su RSS3 trên sàn TOCOM Tokyo giữ được sắc xanh ở các kỳ hạn gần. Cụ thể, hợp đồng giao tháng 11/2026 tăng 0,89% lên mức 447 JPY/kg. Kỳ hạn tháng 12/2026 tăng 0,26% đạt 426,5 JPY/kg. Trong khi đó, hợp đồng giao tháng 3/2027 đảo chiều giảm 0,18% về mức 433 JPY/kg.
Ngược lại, áp lực bán chiếm ưu thế tuyệt đối trên sàn SHFE Thượng Hải và SGX Singapore.
Tại Trung Quốc, giá cao su tự nhiên trên sàn SHFE đồng loạt suy giảm từ 0,43% đến 0,78% do áp lực điều chỉnh nội tại. Cụ thể, hợp đồng giao tháng 11/2026 giảm 0,43% xuống 18.475 CNY/tấn, kỳ hạn tháng 1/2027 lùi 0,78% về mức 19.085 CNY/tấn.
Cùng chung xu hướng điều chỉnh, giá cao su TSR20 trên sàn SGX Singapore giảm mạnh ở hầu hết các kỳ hạn. Hợp đồng giao tháng 12/2026 mất 2,5% xuống còn 242,2 US cent/kg, kỳ hạn tháng 1/2027 giảm 2,22% về 242,1 US cent/kg. Điểm sáng duy nhất tại Singapore thuộc về hợp đồng kỳ hạn tháng 3/2027 khi ngược dòng tăng 2,32%, đạt mức 239,9 US cent/kg.


