Thị trường nông sản 25/6: Cà phê tiếp đà tăng nhẹ, heo hơi ba miền lặng sóng
Trong phiên giao dịch sáng 25/6, giá cà phê tiếp tục duy trì đà tăng trên cả thị trường nội địa lẫn quốc tế. Thị trường heo hơi ba miền đồng loạt đi ngang, giá sầu riêng và cao su ghi nhận sự phân hóa rõ rệt.
Giá cà phê đồng loạt đi lên ở cả thị trường trong nước và quốc tế
Thị trường nông sản sáng nay cho thấy, cà phê ghi nhận những tín hiệu đầy tích cực khi giá giao dịch ở cả thị trường nội địa lẫn quốc tế đều vững bước đi lên.
Theo giacaphe.com, tại thị trường trong nước, kết thúc phiên giao dịch hôm qua, giá cà phê tại khu vực Tây Nguyên đã tăng trung bình 200 đồng /kg.
Đưa mức giá giao dịch dao động trong khoảng từ 88.300 đến 88.800 đồng /kg, với mức giá bình quân toàn khu vực đạt 88.700 đồng /kg.
Cụ thể, tại khu vực Đắk Nông (nay thuộc Lâm Đồng) hiện giữ mức giá cao nhất thị trường là 88.800 đồng /kg, sau khi tăng nhẹ 100 đồng/kg.
Tại Đắk Lắk, mức giá ghi nhận được là 88.700 đồng /kg, đạt mức tăng 200 đồng /kg so với phiên liền trước. Tại Gia Lai duy trì ổn định ở mức 88.500 đồng /kg.
Trong khi đó, tại khu vực Lâm Đồng (cũ) cũng ghi nhận mức tăng 100 đồng /kg, đẩy giá thu mua lên ngưỡng 88.300 đồng /kg.
Sự khởi sắc của thị trường nội địa hoàn toàn đồng điệu với diễn biến trên các sàn quốc tế. Chiều cùng ngày theo giờ Việt Nam, giá cà phê thế giới đều ghi nhận sắc xanh.
Cụ thể, đối với hợp đồng kỳ hạn giao tháng 7/2026 của chủng loại cà phê Robusta trên sàn London, giá đã tăng thêm 0,28%. Tương đương mức tăng 10 USD /tấn, chốt phiên giao dịch ở mức 3.590 USD /tấn.
Song song đó, giá cà phê Arabica trên sàn New York kỳ hạn giao tháng 7/2026 cũng tăng 0,45%. Tương ứng tăng 1,30 US cent/lb so với phiên liền trước, đưa giá giao dịch đạt ngưỡng 289,25 US cent/lb.

Thị trường nông sản chứng kiến giá hồ tiêu duy trì sự ổn định
Trái ngược với đà tăng của cà phê, mặt hàng hồ tiêu trong nước chọn xu hướng đi ngang nhưng vẫn neo chắc chắn ở vùng giá rất cao.
Cập nhật từ giatieu.com cho thấy, giá tiêu sáng nay tiếp tục duy trì ổn định trong khoảng từ 137.000 đến 139.000 đồng/kg.
Trong đó, tỉnh Đắk Lắk và khu vực Đắk Nông (Lâm Đồng) vẫn là hai nơi có mức giá thu mua cao nhất cả nước khi đạt ngưỡng 139.000 đồng/kg.
Tại khu vực Bà Rịa - Vũng Tàu (TP.HCM) và Đồng Nai, thị trường ghi nhận mức giá giao dịch chung ổn định là 137.500 đồng/kg. Địa phương có mức giá thấp nhất là Gia Lai, hiện neo ở mức 137.000 đồng/kg.
Trên thị trường thế giới, số liệu mới nhất từ Hiệp hội Hồ tiêu Quốc tế cho thấy giá tiêu đen tại Indonesia tiếp tục xu hướng sụt giảm khi mất đi 34 USD/tấn. Tương đương giảm 0,48% so với ngày trước đó, lùi về mức 7.158 USD/tấn.
Đối với tiêu trắng Muntok của quốc gia này, giá cũng giảm 0,49%, tương đương bốc hơi 45 USD/tấn, còn 9.256 USD/tấn.
Còn tại Brazil, giá tiêu đen loại ASTA 570 hiện được chào bán ở mức 5.900 USD/tấn, trong khi tiêu đen Malaysia giữ vững ở mức 9.350 USD/tấn và tiêu trắng Malaysia là 12.250 USD/tấn.
Đối với Việt Nam, giá tiêu đen xuất khẩu vẫn giữ nguyên ở mức từ 6.100 đến 6.200 USD/tấn cho các chủng loại 500 g/l và 550 g/l. Riêng giá tiêu trắng xuất khẩu duy trì ổn định ở mức 9.000 USD/tấn.
Thị trường lúa gạo phân hóa nhẹ
Theo khảo sát tại một số nguồn và luagaoviet.com, tại khu vực ĐBSCL, giá lúa hôm nay nhìn chung giữ xu hướng ổn định, tăng nhẹ ở gạo thơm.
Cụ thể, giá gạo thơm Jasmine bất ngờ đảo chiều giảm 1.000 đồng/kg, trong khi giá gạo nguyên liệu và gạo xuất khẩu vẫn giữ nguyên mức cũ.
Giá gạo nguyên liệu xuất khẩu loại CL 555 hiện dao động quanh mức từ 9.000 đến 9.100 đồng/kg.
Các loại gạo nguyên liệu khác như IR 504 dao động từ 8.700 đến 8.800 đồng/kg, OM 5451 từ 9.500 đến 9.600 đồng/kg. OM 18 đạt từ 8.700 đến 8.850 đồng/kg. Đài Thơm 8 nằm trong khoảng từ 9.200 đến 9.400 đồng/kg.
Đối với gạo nguyên liệu xuất khẩu loại OM 380 và Sóc thơm, mức giá thu mua cùng duy trì ở khoảng từ 7.500 đến 7.600 đồng /kg. Riêng gạo thành phẩm IR 504 đang được chào bán ở mức từ 10.750 đến 10.900 đồng/kg.
Đối với mặt hàng lúa, giá lúa tươi loại IR 50404 hiện dao động trong mức từ 5.500 đến 5.700 đồng/kg. Lúa OM 34 tươi ở mức từ 5.400 đến 5.600 đồng/kg, lúa OM 5451 tươi ở mức từ 5.700 đến 5.800 đồng/kg.
Hai loại lúa tươi OM 18 và Đài Thơm 8 cùng có chung mức giá giao dịch ổn định từ 6.200 đến 6.400 đồng /kg.
Trên bình diện xuất khẩu, Hiệp hội Lương thực Việt Nam cho biết giá gạo xuất khẩu của nước ta hôm nay đứng giá vững vàng.
Chủng loại gạo Jasmine được chào bán ở mức từ 505 đến 509 USD/tấn. Gạo thơm 5% tấm dao động trong khoảng từ 485 đến 490 USD/tấn, và gạo thơm 100% tấm đạt từ 344 đến 348 USD/tấn.
Giá sầu riêng có xu hướng hạ nhiệt tại các vùng trồng trọng điểm
Thị trường sầu riêng hôm nay chứng kiến sự phân hóa và sụt giảm rõ rệt tại nhiều khu vực kho thu mua lớn trên cả nước.
Khảo sát tại một số kho thu mua và giasaurieng.net cho thấy, tại khu vực ĐBSCL, sầu riêng Thái xuống còn từ 63.000 đến 71.000 đồng/kg.
Cụ thể tại vùng này, sầu riêng Thái loại A dao động trong khoảng từ 63.000 đến 71.000 đồng/kg. Loại B ở mức từ 43.000 đến 51.000 đồng/kg, còn loại C được tiến hành theo hình thức thương lượng.
Đối với chủng loại Ri6, sầu riêng loại A có giá từ 38.000 đến 39.000 đồng/kg, loại B từ 23.000 đến 24.000 đồng/kg, và loại C thương lượng.
Phân khúc sầu riêng cao cấp Musang King loại A đạt 80.000 đồng/kg, loại B ở mức 60.000 đồng/kg. Trong khi Black Thorn loại A có giá lên tới 110.000 đồng/kg và loại B đạt 90.000 đồng/kg.
Tại khu vực Tây Ninh, giá sầu riêng Thái loại A dao động ở mức 72.000 đồng/kg, loại B ở mức 52.000 đồng/kg, loại C thương lượng.
Tại khu vực Đồng Nai, thị trường giữ giá khá tốt khi sầu riêng Thái đẹp loại A vẫn được các kho thu mua ở mức từ 73.000 đến 80.000 đồng/kg. Loại B từ 55.000 đến 60.000 đồng/kg, sầu Thái lỗi dao động từ 60.000 đến 69.000 đồng/kg.
Sầu riêng Ri6 tại Đồng Nai loại A dao động từ 37.000 đến 40.000 đồng/kg, loại B từ 23.000 đến 25.000 đồng/kg.
Đối với Musang King loại A tại đây có giá 81.000 đồng/kg, loại B đạt 61.000 đồng/kg. Black Thorn giữ giá tương đương khu vực miền Tây với loại A là 110.000 đồng/kg và loại B là 90.000 đồng/kg.
Tại khu vực Tây Nguyên, cụ thể là tỉnh Đắk Lắk, xu hướng giảm cũng xuất hiện rõ nét khi giá sầu riêng Thái loại A lùi về quanh mức từ 70.000 đến 73.000 đồng/kg. Loại B từ 50.000 đến 53.000 đồng/kg.
Chủng loại Ri6 loại A tại Đắk Lắk dao động từ 38.000 đến 40.000 đồng/kg, còn loại B neo ở mức 23.000 đồng/kg.
Heo hơi cả ba miền duy trì trạng thái ổn định
Sau những đợt điều chỉnh, thị trường heo hơi trên toàn quốc đã tìm được trạng thái cân bằng và đồng loạt đi ngang trong ngày hôm nay.
Mức giá khảo sát chung trên cả nước hiện dao động trong khoảng từ 61.000 đến 68.000 đồng/kg.
Khu vực miền Bắc tiếp tục khẳng định vị thế là nơi có mặt bằng giá heo hơi cao nhất cả nước khi duy trì mức giao dịch ổn định từ 67.000 đến 68.000 đồng/kg.
Tại miền Trung và Tây Nguyên, thị trường duy trì sự bình ổn với giá thu mua nằm trong khoảng từ 62.000 đến 67.000 đồng/kg.
Ở phía Nam, mức giá thu mua tại đây hiện nằm trong khoảng từ 61.000 đến 63.000 đồng /kg, mức thấp nhất so với hai miền còn lại.
Hiện các tỉnh Tây Ninh, Đồng Tháp, An Giang, Cà Mau, Vĩnh Long và Cần Thơ đang cùng ghi nhận mức giá đáy là 61.000 đồng /kg.
TP.HCM có giá giao dịch ở mức 62.000 đồng /kg, và tỉnh Đồng Nai tiếp tục là địa phương có giá heo hơi cao nhất khu vực miền Nam khi neo giữ ở mức 63.000 đồng /kg.
Giá cao su quốc tế chịu áp lực giảm
Thị trường cao su sáng nay chứng kiến một diễn biến đáng chú ý khi giá thu mua trong nước hoàn toàn trái ngược với thị trường thế giới khi các sàn giao dịch lớn tại châu Á đang phải chịu một áp lực bán tháo.
Cụ thể tại các công ty lớn trong nước, giá thu mua mủ nước vẫn được giữ ở mức ổn định.
Tại Công ty Cao su Mang Yang, mủ nước loại 1 có giá là 463 đồng /TSC/kg, loại 2 đạt 458 đồng /TSC/kg. Đối với mủ đông tạp, loại 1 ghi nhận ở mức 459 đồng /kg và loại 2 là 404 đồng /kg.
Tại Công ty Cao su Phú Riềng, mức giá áp dụng cho mủ nước là 420 đồng /TSC/kg và mủ tạp là 390 đồng /DRC/kg.
Công ty Cao su Bà Rịa đưa ra các mức giá mủ nước cụ thể gồm mức 1 đạt 452 đồng /độ TSC/kg cho độ TSC từ 30 trở lên.
Đối với mủ tạp tại Bà Rịa, các loại mủ chén, mủ đông có độ DRC từ 50% trở lên đạt giá 18.000 đồng /kg, từ 45% đến 50% đạt 16.700 đồng /kg, và từ 35% đến 45% ở mức 13.500 đồng /kg.
Riêng tại Công ty Cao su Bình Long, giá mủ nước thu mua tại nhà máy đạt 545 đồng /độ TSC/kg.
Ở chiều ngược lại, thị trường thế giới lại ghi nhận các sàn giao dịch lớn đồng loạt lao dốc.
Cụ thể, trên sàn SHFE tại Thượng Hải, giá cao su tự nhiên giảm mạnh hơn 2,5% ở tất cả các kỳ hạn. Hợp đồng giao tháng 7/2026 và tháng 8/2026 cùng lùi về mức 17.135 CNY /tấn, tháng 9/2026 còn 17.150 CNY /tấn.
Tại sàn SGX tại Singapore ghi nhận mức bốc hơi lên tới hơn 4% khi hợp đồng TSR20 kỳ hạn tháng 7/2026 giảm mạnh còn 215,10 Cent /kg, kỳ hạn tháng 8/2026 còn 219,90 Cent /kg, tháng 9/2026 là 219,20 Cent /kg.
Sàn TOCOM tại Tokyo Nhật Bản lại có sự biến động trái chiều và giữ được sự ổn định tương đối nhờ lực đỡ từ các kỳ hạn gần.
Hợp đồng giao tháng 6/2026 đạt mức 430,30 JPY/kg, tăng 0,58%; tháng 7/2026 đạt 430,30 JPY/kg, tăng nhẹ 0,07%. Tháng 8/2026 giảm 0,23% còn 431,40 JPY/kg; tháng 9/2026 giảm 0,65% xuống 432,00 JPY/kg.

.webp)

