Mất 6 tỷ USD/năm: Nút thắt chế biến sâu bóp chết lợi nhuận cà phê Việt
Mỗi tấn cà phê thô xuất đi, thì mất 4.000 USD nếu không chế biến sâu. Mổ xẻ một năm Việt Nam xuất đi bao nhiêu tấn cà phê thô, thì sẽ hiện con số thất thoát lẫn điểm kẹt nằm ở đâu. Chuyện được nêu ra tại diễn đàn Quốc hội chiều 29/10.

Mất 4.000 USD/tấn
Trong phiên thảo luận về dự án Luật Phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa, đại biểu Lê Hoàng Anh, Ủy viên hoạt động chuyên trách Ủy ban Kinh tế và Tài chính của Quốc hội, đã đưa ra một phép tính khiến nhiều người phải suy ngẫm. Năm 2025, Việt Nam đạt kim ngạch xuất khẩu cà phê kỷ lục khoảng 9 tỷ USD, nhưng tỷ lệ cà phê qua chế biến sâu mới chỉ vỏn vẹn 15%.
Sự chênh lệch về giá trị nằm ở con số: một tấn cà phê nhân xuất thô thu về chừng 5.600 USD, trong khi cũng khối lượng đó, nếu qua chế biến sâu, giá trị nhảy vọt lên 9.700 USD. "Với mỗi tấn xuất thô, chúng ta để lại ở nước ngoài khoảng 4.000 USD giá trị gia tăng", ông Lê Hoàng Anh thẳng thắn.
Nếu làm một phép toán trên tổng sản lượng khoảng 1,4 đến 1,6 triệu tấn cà phê nhân thô gởi ra thế giới mỗi năm, khoảng hụt giá trị gia tăng rơi vào khoảng 5,6 đến 6,4 tỷ USD. Đó là khoản tiền khổng lồ lẽ ra phải thuộc về nông dân Tây Nguyên, thuộc về các doanh nghiệp nội địa và đóng góp cho ngân sách quốc gia, thay vì biến thành lợi nhuận của các nhà rang xay ở châu Âu hay Bắc Mỹ.
Nhìn vào Gia Lai – thủ phủ cà phê với kim ngạch xuất khẩu năm 2025 đạt 3,44 tỷ USD, riêng cà phê đóng góp 1,5 tỷ USD – đại biểu Lê Hoàng Anh chỉ ra một thực tế trớ trêu: Vùng nguyên liệu đã sẵn, thị trường thế giới đang mở rộng cửa, nhưng cái thiếu lớn nhất ngay tại mảnh đất này lại chính là những nhà máy chế biến đủ tầm.
Đường đến chế biến sâu: “Sa lầy” ngay phút khởi động
Thực tế, các doanh nghiệp vừa và nhỏ không hề thờ ơ với miếng bánh chế biến sâu.
Cái kẹt của họ bắt đầu ngay từ mặt bằng sản xuất. Muốn làm nhà máy, dựng kho lạnh hay chuỗi bảo quản nông sản thì phải đặt gần vùng nguyên liệu. Tuy nhiên, quy hoạch đất đai tại nhiều địa phương vẫn manh mún, thiếu hẳn những cụm công nghiệp - chế biến nông sản tập trung có sẵn hạ tầng dùng chung.

Nút thắt tiếp theo nằm ở dòng vốn. Chuyển từ xuất thô sang chế biến sâu đòi hỏi đầu tư dây chuyền, máy móc hiện đại với chu kỳ thu hồi vốn kéo dài vài năm. Nhưng hệ thống tín dụng hiện nay vẫn giữ nguyên tư duy thế chấp bằng "sổ đỏ". Nhà xưởng dựng trên đất nông nghiệp hay máy móc chế biến chuyên dùng rất khó được ngân hàng định giá làm tài sản bảo đảm, khiến doanh nghiệp rơi vào vòng xoáy thiếu vốn trường kỳ.
Bên cạnh đó là rào cản từ các tiêu chuẩn kỹ thuật khắt khe của quốc tế. Như đại biểu Lê Hoàng Anh phản ánh, việc đáp ứng các quy định chống phá rừng (EUDR) hay chứng nhận truy xuất nguồn gốc của châu Âu đòi hỏi chi phí không nhỏ. Trong khi các chính sách hỗ trợ hiện nay mới chỉ dừng ở mức tư vấn, đào tạo phần mềm, chứ chưa có công cụ tài chính hỗ trợ trực tiếp cho chi phí kiểm định hay mua sắm thiết bị.
Đồng quan điểm, đại biểu Phan Thị Thùy Linh (đoàn Thanh Hóa) vạch rõ sự "lệch nhịp" giữa tiến độ hỗ trợ của Nhà nước và quá trình nâng cấp của doanh nghiệp. Để đáp ứng một đơn hàng chế biến sâu cho đối tác lớn, doanh nghiệp cần lộ trình cải tiến từ một đến hai năm. Thế nhưng, nguồn ngân sách hỗ trợ lại bó hẹp trong từng năm tài chính, thường chỉ rầm rộ vào vài tháng cuối năm rồi đứt gánh khi bước sang năm mới.
Sự đứt đoạn này, cộng thêm áp lực tài chính khi doanh nghiệp phải tự bỏ 100% chi phí ứng trước rồi mới mòn mỏi chờ hoàn trả, như đại biểu Nguyễn Cao Sơn (Phó Chủ tịch Hiệp hội Doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam) cảnh báo, đang bào mòn sức chịu đựng của những đơn vị muốn làm ăn bài bản.
Cởi trói bằng công cụ thực chất
Để không tiếp tục chảy máu hàng tỷ USD mỗi năm, việc sửa đổi chính sách lần này đòi hỏi những đòn bẩy cụ thể, chạm đúng nỗi đau của lực lượng sản xuất.
Trước hết là bài toán quy hoạch và đất đai. Quốc hội cần quy định rõ việc bố trí quỹ đất sạch cho các khu, cụm chế biến nông - lâm - thủy sản tập trung, gắn liền với hệ thống kho lạnh và dịch vụ logistics dùng chung ngay tại các địa bàn nguyên liệu. Khi có sẵn hạ tầng, doanh nghiệp nhỏ mới có thể đặt chân vào sản xuất mà không bị gánh nặng chi phí ban đầu đè bẹp.
Về tín dụng, đã đến lúc thay đổi phương thức thẩm định. Thay vì bám chặt vào tài sản thế chấp truyền thống, các tổ chức tín dụng cần được kết nối dữ liệu minh bạch về doanh thu, hóa đơn điện tử, dòng tiền từ cơ quan thuế, hải quan và bảo hiểm xã hội. Một cơ sở chế biến cà phê có ba năm lịch sử hóa đơn sạch hoàn toàn có thể tiếp cận vốn vay dựa trên hợp đồng liên kết tiêu thụ hay khoản phải thu, thay vì buộc phải trình ra một cuốn sổ đỏ.
Về cơ chế ngân sách, cần xác lập nguyên tắc hỗ trợ theo lộ trình đa năm, quản lý theo mốc kết quả đầu ra thay vì gò ép vào một năm tài chính. Việc cho phép tạm ứng vốn có kiểm soát, chấp nhận vật tư hay công lao động làm phần đối ứng sẽ giải phóng áp lực dòng tiền, giúp doanh nghiệp yên tâm đồng hành cùng các dự án nâng cấp công nghệ.
Nâng tầm hạt cà phê Việt không thể dừng lại ở những khẩu hiệu chung chung. Chỉ khi những điểm nghẽn về đất đai, nguồn vốn và cơ chế hỗ trợ được tháo gỡ bằng những điều khoản pháp lý đanh thép, năng lực chế biến sâu mới thực sự cất cánh, giữ lại trọn vẹn giá trị gia tăng trên chính mảnh đất quê hương.


