Cầu nông thôn, hay 'hòa bình' trong hệ quy chiếu khác
Trung bình mỗi năm xây 50 cây cầu, mỗi tháng khánh thành 4 - 5 cây, từ một đơn vị không chuyên. Cầu nông thôn là một hành trình đặc biệt...
Chuyện bắt đầu từ một câu hỏi.
Trong một lần đi khảo sát tình hình xây dựng nông thôn mới ở các huyện biên giới thuộc Long An (cũ), một lãnh đạo huyện bộc bạch với Nguyên Chủ tịch nước Trương Tấn Sang rằng huyện nhà “không có tiền xây cầu nên không thể đạt chuẩn nông thôn mới”. Chuyến đi có ông Nguyễn Đức Quang - Tổng biên tập Tạp chí Nông thôn Việt. Nghe vậy, ông Quang chợt nảy ra sáng kiến. Rồi ông ghé tai hỏi nhỏ ông Sang: “Tạp chí Nông thôn Việt phát động chương trình xây cầu nông thôn được không anh?”. Ông Trương Tấn Sang đáp nhỏ: “Làm việc gì mà giúp được cho dân thì làm…”.
Những gặp gỡ không ngờ
Lần ấy là năm 2016. Cuộc hỏi đáp ngắn gọn đó đã mở ra một chương trình mang tên Cầu nông thôn. Rồi từ đó, hơn 500 cây cầu mọc lên ở những vùng đất xa xôi của 5 tỉnh biên giới. Và có sự tham gia của 71 mạnh thường quân trong suốt 10 năm.
Cuộc hỏi đáp đó, cũng khởi lên những gặp gỡ không ngờ trên những vùng đất xa xôi. Và khơi lên những ước mong đã chôn chặt theo cái hiu quạnh vì xa khuất, không cầu đường.
Như cuộc gặp với bà Du Thị Đông, ấp Tây, xã Tân Hòa, huyện Tân Thạnh, tỉnh Long An (cũ). Bà là người sống sót sau một cuộc thảm sát năm 1967. Sống sót, và mang theo nỗi ám ảnh vì cái chết của mẹ, của cháu và 39 người làng. Nhưng điều làm quay quắt những người gặp gỡ hôm đó, là một cuộc sống hậu chiến héo hắt. Những thiếu hụt kéo dài trong cuộc đời “không lối thoát” theo cả nghĩa đen lẫn nghĩa bóng. Không lối thoát, vì không có cầu. Căn nhà nhỏ chưa tô tường. Nền đất ẩm thấp. Thu nhập vài triệu đồng mỗi tháng, chỉ đủ ăn chứ chưa từng dư dả để lo chuyện ở.
Chúng tôi ra khỏi nhà bà Đông. Con đường dọc kênh Cà Nhíp phủ đá, bụi bay mù mỗi khi xe chạy qua. Thực cảnh nơi này lúc bấy giờ mới hiện ra thật rõ. Những cây cầu dây nhỏ bắc qua kênh đã xuống cấp. Xe cứ đi, người cứ kể chuyện. Trẻ con ở đây đi học phải đi vòng rất xa, có khi 8km. Người già đau ốm ban đêm chèo xuồng đi viện. Có hộ nuôi cá, đến lúc thu hoạch không gọi được xe vào chở vì cầu không chịu nổi tải. Cái nghèo không còn là gia cảnh của bà Du Thị Đông. Cái nghèo chính là cảnh ngộ chung của cả một vùng.
Ông Nguyễn Đức Quang hỏi cán bộ xã: “Điểm nghẽn nằm ở đâu?”. Vị cán bộ trả lời ngắn gọn: Do thiếu cầu. Kênh rạch thì nhiều, cầu thì có nhưng phần lớn là cầu nhỏ, xe lớn không qua được. Trên đường từ nhà bà Đông ra Ủy ban huyện, ông Nguyễn Đức Quang nói: trước mắt hỗ trợ bà Đông làm lại cái nền, cái tường nhà. Rồi lần lượt, 3 cây cầu nông thôn của Tạp chí Nông thôn Việt được đặt xuống đất Tân Thạnh. Những ngày tháng sau đó, ông Quang liên tục xuất hiện ở Tân Thạnh. Ông xuống, để khảo sát, tính toán rồi giám sát việc xây cầu.
Đó là 1 trong hàng ngàn cuộc gặp gỡ trên hành trình 10 năm qua. Hiện thực cứ bày ra. Người đi khảo sát đặt những câu hỏi sát sườn để được trả lời thật trọng tâm. Câu trả lời luôn là những thiếu thốn “không thể tự đáp ứng được”. Thiếu cầu, thiếu cống, thiếu đường… trên những địa bàn bạt ngàn ruộng đồng, lau lách, kênh rạch chằng chịt. Và tới lượt mình, người hỏi trở thành người trả lời. Họ bền bỉ vận động, thao thức những phép tính trên địa bàn hoang vu. Để từ đó cho ra những cung đường tối ưu nhất, kinh tế nhất mà đặt xuống một chiếc cầu.
Những cuộc gọi của “bác Tư”
Ông Nguyễn Đức Quang không nhớ hết những nơi từng được xây cầu nông thôn. Nhưng ông nhớ như in từng lần “bác Tư” - tức ông Trương Tấn Sang gọi điện thông báo:
- Tao vận động được X cây cầu rồi nha!
Rồi ít hôm sau bác Tư lại gọi: “Tao vận động được Y cây cầu rồi nha!”.
Mỗi cuộc gọi báo kết quả là một lần phải triển khai ngay chuỗi công việc. Gồm: chuẩn bị đi khảo sát, liên hệ địa phương, sắp xếp đưa doanh nghiệp xuống tận nơi.
Hầu hết các chuyến khảo sát đều có ông Trương Tấn Sang. Luôn là thành viên lớn tuổi nhất đoàn, ông đi phăng phăng qua mọi đoạn đường. Cứ vào đường khó, ô tô “bó tay”, ông lại gọi cán bộ huyện chở đi bằng xe máy. Rồi khi xe máy cũng “chịu thua”, ông liền bước xuống, đích thân lội bộ. Từ TP.HCM xuống các huyện biên giới thường từ 100 - 200km. Nhưng nguyên tắc của đoàn là luôn đi trong ngày để tránh phát sinh thời gian, chi phí. Xe cứ xuất phát ở TP.HCM vào giữa đêm. Rồi 7 - 8 giờ sáng, đoàn khảo sát Cầu nông thôn đã xuất hiện ở hiện trường. Các doanh nghiệp đồng hành đều bắt đầu từ sự cảm kích đối với tâm huyết của “bác Tư” hay ông Nguyễn Đức Quang. Nhưng đến khi xuống khảo sát, nhiều ông bà chủ “toát mồ hôi” với cảnh đường sá, nắng nôi xa xôi, không theo nổi nhịp đi lại, làm việc.
Hơn 500 cây cầu, là hơn 500 lần lặp lại lộ trình ấy. Mục tiêu của chương trình thì đã rõ. Nhưng chứng kiến 10 năm trời miệt mài lặp đi lặp lại mọi khâu, sốt sắng tìm nhà tài trợ, quần quật những chuyến khảo sát rồi giám sát, tranh luận cả với nhà thi công để đảm bảo chất lượng từng hạng mục… thật khó tránh khỏi một câu hỏi đầy cảm thán về những con người bền bỉ đó.
Những chất vấn thẳm sâu
Tôi nhiều lần “chất vấn” ông Quang về động lực của hành trình bền bỉ và quyết liệt này. Câu trả lời của ông vẫn xoay quanh chuyện cơm áo của người dân, chuyện kết nối, và “lẽ công bằng” với mọi vùng đất. Tôi biết mình chưa chạm được vào “động lực” thực sự. Thứ động lực giản đơn nằm ngoài mọi nhận thức xã hội hay trách nhiệm cộng đồng, ở sâu thẳm trong ông và trong những con người đang lặng lẽ đồng hành.
Cho đến một ngày, đoàn khảo sát Cầu nông thôn có chuyến đi về Mộc Hóa (Long An cũ). Điểm đến là một vùng đất “nghèo xơ xác, nửa thế kỷ không có nổi một cây cầu”. Lúc về, thuật lại chuyến đi để xem xét việc làm cầu, ông Quang cười, nói giọng hài hước:
- Đường khó đi cứ như hồi xưa tôi băng rừng Trường Sơn!
Câu nói làm đồng hiện những phép liên tưởng mà tôi từng được dự phần trong hành trình này. Có lần, trong lễ khánh thành cầu Rạch Gốc – Mỹ Bình 3 ở huyện Đức Huệ (Long An cũ), một người phụ nữ ôm chị Quốc Hương - Phó Tổng biên tập Tạp chí Nông thôn Việt, một người gắn bó xuyên suốt với chương trình Cầu nông thôn - nấc lên. Trong tiếng nấc, bà nói: “ Hòa bình hơn 40 năm rồi, giờ quê tôi mới có cây cầu. Ai nấy đều vui không tả được!”. Hay trong một chuyến khảo sát về vùng biên giới Long An, thấy cảnh cách trở, nhóm học sinh tan học phải đứng chờ đò, ông Trương Tấn Sang chậc lưỡi: “Hòa bình gần nửa thế kỷ rồi mà vầy đây…”.
Cách ông Trương Tấn Sang và người phụ nữ Đức Huệ đặt cột mốc thời gian, hay cách ông Nguyễn Đức Quang so sánh đều phơi bày “cảm thức hòa bình” của một thế hệ thấm đẫm mọi trường nghĩa của từ này. Họ đã đi qua chiến tranh. Cả ông Quang và ông Sang đều là lính chiến. Cảm thức hòa bình trong họ là cảm thức về những gì đáng lẽ phải có cho mọi người dân. Hòa bình đã dung chứa những hình dung, kỳ vọng, đã trở thành một thước đo, một định nghĩa. Để một người lính chiến từng thoát chết trên con đường lửa Trường Sơn thấy day dứt khi ngay trong thời bình vẫn còn những cách trở “cứ như hồi đó băng rừng”. Để một nguyên thủ quốc gia, một cựu tù binh chiến tranh sốt sắng khi “nửa thế kỷ hòa bình” không phủ hết ấm no, tiện nghi cho mọi miền đất nước.
Hòa bình trong hình ảnh từng cây cầu nông thôn
Để rồi, cựu nguyên thủ quốc gia miệt mài vận động, chắt chiu từng cây cầu cho những cụm cư dân heo hút. Một tổng biên tập bền bỉ bám từng địa phương, kiên quyết đeo đuổi những tiêu chuẩn chất lượng để “trao trả” cho từng vùng đất những cây cầu “dùng được”.
Những hành trình không liên quan đến chức phận, nghề nghiệp. Mà dường như, những chức phận, nghề nghiệp kia, cái danh xưng “Chủ tịch nước”, hay “Tổng biên tập” mới là thứ thuộc về hành trình này. Hành trình của những con người nặng nợ. Những người mang quán tính lấp lại những khoảng trống, nối lại những đứt gãy trong đời sống thời bình. Dù từng người họ đã qua tuổi thất thập, đã được-phép-nghỉ-ngơi.
Trong dịp kỷ niệm 10 năm thành lập Tạp chí Nông thôn Việt, cũng là 10 năm chương trình Cầu nông thôn, ông Trương Tấn Sang nhắc đến hành trình này và nói: “400 cây cầu vẫn chưa thấm vào đâu!”. Đúc kết đi ngược mọi logic công lao. Bởi chỉ cần nhìn bằng cái nhìn của 50 năm hậu chiến, sẽ thấy còn bộn bề những việc phải làm, cho trọn nghĩa hòa bình.
Đã 51 năm đất nước thống nhất. Khi chúng tôi tập hợp tư liệu để viết bài này, ông Nguyễn Đức Quang cùng đoàn công tác Tạp chí Nông thôn Việt đang băng rừng đến thăm những cộng đồng cư dân vùng biên xứ Nghệ. Gọi điện về, ông Quang vẫn cười: “Chuyến này đi vất vả giống như ngày xưa vượt Trường Sơn!”. Còn ông Trương Tấn Sang vẫn miệt mài ở đâu đó, trong một quán tính sống từ lúc trút chiếc áo có chữ T.B (tù binh) bên bờ bắc dòng sông Thạch Hãn, được trao trả về với “quân mình”.
Khi còn là Chủ tịch nước, trong một thời điểm căng thẳng về chủ quyền, ông từng nhắc lại lời của Lê Thánh Tông. “Một thước núi, một tấc sông của ta, lẽ nào lại vứt bỏ…”. Lời khẳng định khi ấy gắn với chủ quyền, lãnh thổ. Nhưng bước ra khỏi bối cảnh đó, trở về những con kênh, bờ ruộng, những xóm ấp heo hút nơi đồng bằng, tinh thần của câu nói ấy vẫn còn sức nặng. Nó không phải là một chất vấn để giữ gìn. Mà để chăm sóc, để lấp đầy những trống trải, dở dang. Để miệt mài viết tiếp chuyện hòa bình…









