Bỏ nghề đi bạn, ngư dân tìm thấy chỗ dựa nơi... chiếc thúng
Khi giá nhiên liệu và chi phí những chuyến đi biển ngày càng trở thành gánh nặng, nhiều ngư dân ven biển phía đông Đắk Lắk (Phú Yên cũ) bất ngờ tìm thấy nơi nương nhờ ở... những chiếc thúng.
Từ giã cào trở về nghề lưới thúng
Chiều xuống, ông Nguyễn Văn Vân, ngư dân thôn 2, xã Xuân Cảnh, kéo chiếc thúng từ trên bờ xuống mép nước, chất ngư lưới cụ chuẩn bị cho một đêm đánh bắt.
Thúng của ông thuộc loại lớn, đường kính hơn 3m. Hai thanh gỗ được bắc qua vành để đêm xuống có thể mắc võng nằm nghỉ.

“Tôi sắm thúng đại, ‘độ’ chỗ ngủ. Nhờ vậy ngày nào cũng có thể đi biển. Trước đây chỉ có thúng nhỏ, phải lắc bằng tay thì hai bữa đi phải một bữa nghỉ, vì chịu không nổi cảnh ngồi ròng rã cả đêm”, ông Vân kể.
Những chiếc thúng lớn có thể gắn động cơ nhỏ, tiêu tốn ít nhiên liệu. Thúng nhỏ thì người dân vẫn dùng mái chèo, “lắc” bằng tay.

Trong bối cảnh giá nhiên liệu và chi phí đi biển tăng, cách đánh bắt tưởng đã “cũ xưa” ấy lại trở thành lựa chọn mưu sinh của nhiều ngư dân.
Ông Nguyễn Văn Út, cũng ở xã Xuân Cảnh, từng giã cào đánh bắt ở vùng biển đầm Cù Mông. Nay, giá xăng dầu biến động, nhiều chuyến biển thua lỗ. Chủ tàu khó khăn, người đi bạn có chuyến trở về trắng tay.
Ông Út cùng một số bạn biển chuyển sang nghề lưới thúng. Có ngày thu nhập chỉ hai, ba trăm nghìn đồng. Nhưng cũng có ngày được 5 - 6 triệu đồng. Theo ông Út, chính nghề lưới thúng đã giúp nhiều ngư dân vượt qua giai đoạn chi phí đi biển tăng cao.
Ở Vũng Lắm, vịnh Xuân Đài, anh Thái Văn Tâm vẫn dùng chiếc thúng nhỏ, lắc hoàn toàn bằng tay.
Sau một đêm ngoài biển, anh đưa thúng vào bãi, giao thùng cá cho vợ rồi dùng xe rùa chở lưới về nhà.
Xem thêm: Lúa hột dài cho gạo thơm ngon, sao nông dân không trồng để bán?

Theo anh Tâm, hàng trăm hộ dân quanh vịnh Xuân Đài mưu sinh bằng nghề lưới thúng gần cửa vịnh. Cá trích, cá đấu cùng các loài cá phèn, cá nục… là nguồn lợi quan trọng.
Mỗi đêm, ngư dân thường bủa hai giàn lưới. Khi gặp luồng cá, sản lượng có thể trên một tạ. Cá trích, cá đấu được bán với giá khoảng 15.000 - 20.000 đồng/kg.
Chiếc thúng vì thế không đơn thuần là phương tiện đi biển. Trong lúc những chuyến tàu lớn chịu áp lực chi phí nhiên liệu, nghề lưới thúng cho thấy một cách mưu sinh quy mô nhỏ hơn, phù hợp với đánh bắt gần bờ và nguồn lực của những ngư dân ít vốn.
Chiếc thúng tìm thêm một sinh kế
Ở Hòn Yến, xã Ô Loan, chiếc thúng lại đảm nhận một công việc hoàn toàn khác.
Mùa hè, khi thủy triều xuống, du khách ngồi thúng từ bờ qua các bãi rạn, hòn Đen, hòn Đụn, hòn Yến để ngắm san hô.

Anh Bùi Văn Sơn, du khách từ Hà Nội, gọi vui những chiếc thúng lắc tay là “thúng chạy bằng cơm”.
Chiếc thúng được người dân lắc bằng tay, chầm chậm đưa khách qua những bãi rạn. Từ trên thúng, khách có thể quan sát các cụm san hô với nhiều hình dáng, màu sắc dưới làn nước.
Giá một chuyến thúng được niêm yết 360.000 đồng. Một nhóm khách có thể cùng đi và chia nhau chi phí.
Ông Phạm Văn Hiền đang làm nghề đưa khách bằng thúng. Ông kể, đội có 20 người, chia thành hai tốp, luân phiên ngày làm, ngày nghỉ. Trung bình một ngày làm việc, mỗi người có thể kiếm khoảng 500.000 - 700.000 đồng.
Chiếc thúng vốn dùng để đánh cá, chở thức ăn nuôi tôm, giờ tạo thêm nguồn thu từ du lịch.
Nhưng điều đáng chú ý hơn nằm ở mối quan hệ giữa sinh kế ấy với những rạn san hô.
Xem thêm: Người nuôi tôm kiếm tiền tỷ, biển oằn mình gánh... túi ni lông
Theo ông Hiền, khi đưa khách qua các bãi rạn, người chèo thúng không để du khách bước xuống giẫm đạp hay bẻ san hô.
Ông Phạm Bốn, Trưởng Ban tổ chức lạch lăng Ông miếu Bà (Di tích Quốc gia Danh lam thắng cảnh Quần thể Hòn Yến), cho hay người dân nơi đây xem san hô là “của quý cất giấu dưới biển”. Mỗi năm, san hô chỉ lộ ra khoảng ba tháng vào mùa hè. Khi thủy triều rút; mỗi ngày cũng chỉ có khoảng 3 giờ để có thể quan sát rõ san hô.
Khi nước rút, những cụm san hô với nhiều hình dáng và màu sắc hiện lên giữa các rãnh nước, tạo nên cảnh quan mà người dân địa phương gọi là mùa “hoa san hô” nở.
Với những người chèo thúng, san hô còn nguyên vẹn thì khách còn tìm đến. Mà khách còn tìm đến thì chiếc thúng còn tạo ra thu nhập.
Bảo vệ san hô vì thế không chỉ là câu chuyện bảo vệ cảnh quan. Nó gắn trực tiếp với sinh kế của chính những người dân sống bên rạn.
“Căn cước” của những chiếc thúng
Những bến biển nơi đây có hàng trăm chiếc thúng giống hệt nhau về màu sắc, kích cỡ. Vì vậy, người dân nghĩ ra một cách nhận diện rất đơn giản: viết tên và số điện thoại của chủ nhân lên vành thúng.
Họ gọi vui đó là gắn “căn cước công dân” cho thúng.

Ông Dương Thêm, ở xã Tuy An Nam, kể thúng không neo như tàu thuyền. Khi gặp sóng lớn, thúng có thể bị cuốn trôi sang một bến khác. Người nhặt được chỉ cần nhìn số điện thoại ghi trên vành rồi gọi chủ nhân đến nhận.
Có chiếc thúng trôi suốt ba ngày ra khu vực đảo Nhơn Châu rồi vẫn trở về với chủ nhờ "căn cước" ấy.
Những cái tên trên vành thúng cũng mang theo chuyện làng, chuyện xóm. Nếu trong xóm có nhiều người trùng tên, người ta ghép thêm tên vợ, vẫn trùng nữa thì dùng biệt danh. Lối đánh dấu dân dã đó là cách cộng đồng cư dân làng biển giúp nhau gìn giữ phương tiện mưu sinh.
Và cũng ở những bến thúng ấy, đôi khi có một chiếc nằm úp trên bờ từ tháng này sang tháng khác. Người trong xóm nhìn tên trên vành là biết chủ nhân của nó. Đó là thúng của người nuôi tôm thua lỗ, tôm bệnh chết, mang nợ rồi bỏ nghề. Hoặc, là thúng của người đã qua đời.
Chiếc thúng không còn xuống biển nhưng cái tên vẫn còn đó.
Ở những làng biển này, chiếc thúng vì thế không chỉ là một phương tiện đơn thuần. Nó theo người dân đi đánh cá, nuôi tôm, chở khách ngắm san hô. Khi chi phí đi biển tăng cao, nó trở thành chỗ dựa, chuyên chở giúp họ gánh nặng mưu sinh.

Và khi san hô có thể mang lại thu nhập cho người chèo thúng, câu chuyện sinh kế cũng bắt đầu gắn với một điều quan trọng hơn: giữ được “vốn quý” dưới biển để còn có thể sống cùng biển lâu dài.


