TS Phạm Hồng Đức Phước - Người đi từ đồi đá chết đến di sản ca cao Việt Nam
Một ngọn đồi xám xịt, trơ trọi đá, không một cánh chim trú ngụ… liệu có thể được phủ xanh bằng cây ca cao - loài cây vốn yêu cầu rất cao trong canh tác, thường xuyên bị sâu bệnh và cần nhiều dinh dưỡng? Ai từng đến Đồi Đá (Stone Hill) 20 năm trước và bước chân trở lại hôm nay cũng sẽ thấy choáng ngợp. 13 hecta xám xịt màu đá đã được phủ một tấm thảm xanh, vườn cây ca cao trổ hoa kết trái, chim chóc, đom đóm, bọ que… tìm về. Và từ đó, ra đời Stone Hill Chocolate,"dòng sô cô la đắt nhất Việt Nam.

Người biến đồi đá thành một hệ sinh thái đa dạng theo chuẩn vườn rừng này không ai khác là tiến sĩ Phạm Hồng Đức Phước. Là tiến sĩ ngành Sinh lý thực vật, cũng là chuyên gia đầu ngành về cây ca cao ở Việt Nam, ông đã dành cả cuộc đời để nghiên cứu về cây ca cao, theo đuổi phương pháp canh tác phục hồi (regenerative farming), canh tác thuận tự nhiên (permaculture).

Về hưu sau gần 4 thập kỷ giảng dạy tại trường Đại học Nông lâm TP.HCM, thành công với Đồi Đá nhưng ông chưa có một phút giây nào dừng lại. Ở tuổi ngoài 70, ông vẫn không ngừng nỗ lực cống hiến để phát triển ca cao Việt Nam.
Chào ông! Hành trình hồi sinh Đồi Đá thật dài và gian nan. Trước khi bắt đầu phục hồi nó, ông có biết trước điều này không?
Tiến sĩ Phạm Hồng Đức Phước: Năm 2009, tôi muốn tìm một mảnh đất bạc màu để áp dụng các phương pháp canh tác phục hồi đã nghiên cứu và chia sẻ rộng rãi trong giới khoa học và với bà con nông dân. Được một người quen giới thiệu Đồi Đá, tôi đến và thấy mảnh đất còn tệ hơn những gì có thể tưởng tượng. Sau ngỡ ngàng ban đầu, tôi chấp nhận thực tại của đất, bắt tay cải tạo và phục hồi hữu cơ cho ngọn đồi.

Đã đi qua một chặng đường quá xa, liệu ông còn nhớ những gì mình đã làm trong những ngày đầu đến Đồi Đá?
Tôi bắt đầu bằng 180 chuyến xe chở đất cấp phối, mỗi chuyến 10 tấn, tạo đường đi lên đồi. Có lúc phải huy động hơn 20 công nhật một ngày chỉ để trồng cỏ và cây rừng, trả lại sinh khối cho đất, làm than hầm cải tạo lý tính cho đất và là môi trường tốt để vi sinh vật cư trú, phát triển… Tôi cũng nghiên cứu ứng dụng và phổ biến cây cỏ hương bài (cỏ vetiver) ở Việt Nam để khai thác công dụng giữ đất ở những địa hình dốc, bờ ao, xử lý ô nhiễm môi trường,… Phải đến mùa mưa năm sau, những cây ca cao đầu tiên mới được trồng trên mảnh đất này.

Từ đó, một chuỗi những ngày tháng của thành công, thất bại và bài học trong việc trồng cây trên đất dốc đã bạc màu. Tôi không đánh giá trên số liệu cụ thể mà dựa vào quan sát, cảm nhận thực tế về diễn biến sinh thái.
Bây giờ nhìn lại, hành trình phục hồi có đúng như ông hình dung không?
Sau 16 năm, 13 hecta Đồi Đá vẫn đi đúng hướng tôi dự trù từ đầu, canh tác thuận tự nhiên, vườn rừng phục hồi ngày càng tốt hơn, độ giữ nước bề mặt của đất ngày càng tăng, độ che phủ, đa dạng sinh học được cải thiện, chim chóc về nhiều hơn…
Hệ sinh thái thay đổi. Những ngày đầu, các ao mới đào bơm một lần là tắt, bây giờ có thể bơm nhiều lần… Bởi mặc dù mức độ nước phục hồi nhưng vẫn giới hạn, chưa cung cấp đủ cho diện tích trồng ca cao.

Sản phẩm sô cô la mang thương hiệu Đồi Đá cũng được định vị là dòng sản phẩm cao cấp trên thị trường, được người tiêu dùng đón nhận vì có hương vị rất đặc trưng của sự kết hợp trên 50 giống ca cao; sử dụng nguồn nguyên liệu có lẽ là duy nhất ở Việt Nam không sử dụng thuốc diệt cỏ và bảo vệ thực vật.
Năm 2017, Đồi Đá được trao giải “Top 50 hạt ca cao ngon nhất thế giới” trong chương trình Cocoa of Excellence tại Paris, ghi điểm son uy tín cho nền nông nghiệp thực phẩm sạch Việt Nam.
Hiện nay, ca cao Đồi Đá, sô cô la Đồi Đá đều đã quá thành công trên thị trường quốc tế. Theo ông thì thành công của ca cao Đồi Đá đến từ đâu?
Đặc thù của Đồi Đá không phải là tập trung vào năng suất cao để trồng kinh tế như thông thường, mà chỉ phục hồi đất. Chúng tôi cũng đặt mục tiêu cao nhất là lưu trữ nguồn gene ca cao.
Ở đây chúng tôi đang lưu giữ 70 dòng, có những loại năng suất thấp nhưng lại có tính trạng đặc biệt như chịu được hạn, trái nhiều hạt nhỏ…
Vậy là con đường của TS Phạm Hồng Đức Phước không chỉ là làm nên một dòng ca cao giàu hiệu quả kinh tế, mà còn như "vương nợ" với câu chuyện mã gene của loài này...
Bà con nông dân trồng kinh doanh thường sẽ chỉ chọn 10 dòng ca cao năng suất cao nhất và bỏ qua những giống ca cao khác. Nhưng các giống ca cao trên thế giới thì rất đa dạng. Ở Anh - quốc gia lưu giữ nhiều loại ca cao nhất trên thế giới - có tới 5.000 loại. Tôi xác định rằng muốn ca cao Việt Nam phát triển thì phải tự tạo giống ca cao của Việt Nam.
Tôi từng công tác ở ở Đại học Nông lâm TP.HCM - nơi có bộ giống ca cao phong phú nhất. Hồi đó, tôi đã tìm hiểu những giống phù hợp với nước ta và nhập về tới 200 giống.
Khi về hưu, tôi sợ để đó thì không ai kế thừa, có trục trặc như hỏa hoạn thì lại mất hết và phải thành thực rằng kinh phí nghiên cứu của trường giới hạn, không ai bỏ tiền ra chăm nên cũng có nhiều giống cây bị chết, không phát triển, có khi còn bị trâu bò phá...
Số giống còn lại dù đã mất gần hết nhưng vẫn còn số lớn những dòng quan trọng, tôi đã chuyển về Đồi Đá trồng để lưu giữ.
Dù việc giữ giống rất tốn kém về kinh tế, công sức. Đơn cử như việc trồng cây giống xuống mà không khai thác kinh tế là đã mất chi phí cơ hội trên mảnh đất đó. Việc chăm sóc tưới, tạo tán, tỉa cành, bón phân… tất cả những việc bảo vệ, chăm sóc đều tốn kém đủ bề.
Trong 70 dòng giống tôi đang lưu giữ, số dòng cho năng suất tốt chỉ có 20, còn lại là hữu dụng về mặt di truyền. Nhưng tôi tiếc vì không ai giữ nên tôi phải bỏ sức ra giữ, sau này có ai sử dụng hay không, tôi cũng chưa biết.
Việc tôi bỏ tiền túi ra giữ giống ca cao cũng hơi… bất thường. Nếu có một công ty lớn hoặc nhà nước đứng ra giữ giống thì sẽ hợp lý hơn vì sẽ có nguồn lực tốt hơn để duy trì và nghiên cứu ca cao Việt Nam.

Đến thời điểm này, ông đã toại nguyện với những gì ông đã làm với ca cao Việt Nam chưa?
Phải nói rằng từ năm 2000 đến nay, tất cả dự án ca cao ở Việt Nam, tôi đều có liên quan, tham gia trực tiếp và gián tiếp như phía Nam Đồng bằng sông Cửu Long, Đông Nam Bộ, Tây Nguyên…
Nhưng tâm đắc nhất với dự án ở Ea Súp (Đăk Lăk).
Dù về mặt hiệu quả kinh tế thì không phải là nhất, nhưng nơi đây đã từng được coi như một “vùng đất chết” với cây dài ngày và nay được hồi sinh trở lại. Ban đầu, tầng đất canh tác ở đây vốn mỏng, đất xấu nên chỉ trồng cây ngắn ngày. Các loại cây rừng như cây keo lai, cao su… đều thất bại hết.
Vậy bây giờ lại có thể phát triển được cây ca cao - loại cây khó trồng hơn rất nhiều so với các loại cây khác nên tôi cho là thành công lớn.
Việc hồi sinh Ea Súp cũng có ý nghĩa như chiếc chìa khóa để khai thác hàng trăm ngàn hecta chỉ trồng cây ngắn ngày.
Một dự án khác nữa là trang trại Bò Sữa Củ Chi (Tp.HCM), dù diện tích chỉ có 15 - 20 hecta nhưng tôi rất hài lòng về mặt năng suất. Thông thường, cây ca cao phải mất 30 tháng mới vào thời kỳ kinh doanh nhưng trồng ở trang trại này chỉ mất 20 tháng.
Họ có sẵn nền đất giàu dinh dưỡng, môi trường thuận lợi, còn tôi chọn giống, bổ sung kĩ thuật từ cách tưới tiêu, che bóng, bón phân… và kết quả thu được rất tốt.
Hay một điển hình khác là trang trại của Công ty Ca cao Trọng Đức (Gia Lai). Vị trí nơi đây rơi vào vùng lũ, nước tràn vào vùng ca cao lên tới 2 thước.
Nhưng nhờ cách xử lý bằng cách chen đa dạng sinh học, đưa cây rừng vào làm giảm tốc độ gió, hạn chế thiệt hại do diễn biến thiên tai bất lợi nên trong đợt lũ cuối năm 2025, diện tích ca cao gần lút nhưng cây trồng gần như không bị ảnh hưởng.
Sau những điều mà ông đã và đang làm với ca cao Việt Nam, xin phép quay ngược lại lý do ban đầu. Vì sao trong rất nhiều loại cây có trên thị trường, ông lại tâm đắc nhất khi đưa cây ca cao vào trồng trên những nền đất xấu?
Tôi tin rằng về mặt sinh thái môi trường, chưa có loại cây nào hiệu quả cao hơn ca cao. Cây ca cao có độ che phủ tốt, tạo thuận lợi để phát triển đa dạng sinh học.
Một mảnh đất trồng càng nhiều loại cây càng tốt, càng thuận tự nhiên và ca cao cho phép làm được điều này; còn đất trồng café hay sầu riêng thì chỉ thuần loài cây đó.
Đi đến những vùng ca cao, bạn sẽ thấy mát rượi, sảng khoái. Với dân trong nghề thì chỉ cần nhìn vườn ca cao 5 - 7 năm, nhìn lớp hữu cơ dày, thấy giun đất đùn lên, đời sống động thực vật phong phú… là thấy hạnh phúc.

Và đặc biệt hơn nữa là nếu phát triển tốt, cây ca cao cũng cho giá trị kinh tế lớn. Trên thế giới, cả tỷ người thích sô cô la. Nhưng vì ít nước trồng được ca cao, nên nhiều người chưa biết ca cao rất hữu dụng.
Nhân hạt để làm bột ca cao, sô cô la, xà bông, mỹ phẩm. Vỏ hạt làm trà. Lớp cơm nhầy bọc quanh hạt làm sinh tố, rượu vang, rượu mạnh. Vỏ quả băm nhỏ là món ăn khoái khẩu của bò, dê…
Ngoài việc trồng ca cao, liệu còn cách nào để thúc đẩy sự phát triển của ca cao ở Việt Nam không, thưa ông?
Hiện tại, tôi vẫn đang làm tư vấn kỹ thuật nông nghiệp. Trong đó, tôi tư vấn về cây ca cao là chính. Các vấn đề tôi tư vấn thường liên quan đến hệ thống canh tác thuận tự nhiên cho các dự án quốc tế, tổ chức NGO. Hoặc tư vấn cho các cá nhân muốn trồng ca cao.
Tôi cũng tiếp tục giảng dạy. Tôi không dạy ở trường. Tôi dạy cho những người có nhu cầu kiến thức thực tế về nông nghiệp.

Tôi luôn nhấn mạnh và chú trọng việc chăm đất, chăm môi trường trước, phục hồi vi sinh vật đất. Mô hình của tôi luôn nhấn mạnh đến đa dạng sinh học. Khi đất đã tốt thì bạn trồng cây nào cũng được.
Được biết, năm 2005, ông từng xuất bản cuốn "Kỹ thuật trồng ca cao ở Việt Nam". Cuốn sách cung cấp kiến thức chuyên sâu về giống, kỹ thuật canh tác, quản lý cây ca cao ở Việt Nam. Vậy ông dự định tiếp tục viết sách hay có thêm những ấp ủ nào muốn thực hiện trong thời gian tới?
Tôi chưa có dự định viết thêm cuốn sách nào. Nhưng cuốn “Kỹ thuật trồng ca cao ở Việt Nam” từ ngày xuất bản đến nay đã luôn được bổ sung thêm các nội dung nhằm cung cấp kiến thức một cách đa dạng, chuyên sâu nhất về giống, kỹ thuật canh tác, quản lý cây ca cao phù hợp với điều kiện Việt Nam. Người đọc có thể nắm vững quy trình từ trồng đến chăm sóc loại cây này.

Sắp tới, tôi vẫn sẽ tiếp tục cùng các công sự tiếp tục công việc ở Đồi Đá. Ai rủ rê gì, thấy làm được thì tôi tham gia. Tôi không có kế hoạch, chuyện đến thì mình đón.

Ngoài ra, tôi cũng thường mở các lớp về nông nghiệp nói chung, ca cao nói riêng tại Đồi Đá. Tôi cố gắng tận dụng những thành quả hiện tại để lan tỏa cho xã hội thông qua các buổi chia sẻ kiến thức làm nông; tổ chức các buổi ngoại khóa cho các em học sinh, sinh viên được vui chơi, giao lưu và tận hưởng thiên nhiên…
Trong những lớp học này, tôi thấy mừng khi thấy ngày càng có nhiều bạn trẻ xuất hiện ở đây hơn và mang kiến thức học được về xanh hóa những mảnh đất khác ở trên khắp Việt Nam.







