Truy xuất nguồn gốc phải chứng minh được điều kiện sản xuất
Đáp ứng yêu cầu thị trường, doanh nghiệp cần dữ liệu truy xuất nguồn gốc nguyên liệu, điều kiện sản xuất và quá trình vận chuyển, kèm hồ sơ để kiểm chứng.
Yêu cầu thị trường thúc đẩy truy xuất nguồn gốc đến vùng nguyên liệu
Yêu cầu đối với hàng hóa trên thị trường quốc tế đang đi sâu vào nguồn nguyên liệu và điều kiện sản xuất.
Theo bà Hồ Thị Quyên, Phó Giám đốc Trung tâm Xúc tiến tiến Thương mại và Đầu tư (ITPC), các tiêu chuẩn xanh và yêu cầu về minh bạch chuỗi cung ứng đang được áp dụng ngày càng khắt khe. Doanh nghiệp cần chủ động nắm rõ lộ trình tuân thủ, đồng thời chuyển hóa các dữ liệu kỹ thuật sẵn có thành bằng chứng xác thực đáp ứng các tiêu chuẩn phát triển bền vững.
Đặc biệt, đối với thị trường xuất khẩu, Quy định chống phá rừng của EU (EUDR) bắt buộc phải truy xuất chính xác đến từng lô đất sản xuất và chứng minh hàng hóa không gây ảnh hưởng đến rừng sau ngày 31/12/2026. Điều này buộc khả năng quản lý thông tin tại vùng nguyên liệu phải gắn liền với năng lực đáp ứng yêu cầu thị trường.

Tại thị trường trong nước, Nghị định số 37/2026/NĐ-CP có hiệu lực từ tháng 7 vừa qua cũng nêu rõ nhóm hàng hóa có mức rủi ro cao như thực phẩm, dược phẩm và vật tư nông nghiệp phải thực hiện đầy đủ các quy định về truy xuất nguồn gốc.
Liên quan đến vấn đề này, ông Phạm Hải Nam, chuyên gia môi trường, xã hội và quản trị (ESG), cho biết, truy xuất nguồn gốc cần trả lời ba câu hỏi: nguyên liệu, sản phẩm do ai cung cấp, xuất xứ từ đâu và được sản xuất trong điều kiện nào.
Riêng đối với nguyên liệu nông nghiệp, mức độ chi tiết của thông tin đóng vai trò quyết định. Việc chỉ truy xuất dừng lại ở cấp quốc gia, khu vực hoàn toàn khác với việc xác định chính xác đến từng nông trại, trại giống hay nhà máy thức ăn chăn nuôi.
“Doanh nghiệp cần đánh giá đồng thời hai khía cạnh tỉ lệ khối lượng hàng hóa có thể truy xuất và độ sâu của thông tin truy xuất. Một hệ thống dù có độ bao phủ rộng lớn đến đâu vẫn phải làm rõ độ sâu dữ liệu, đặc biệt là khả năng định vị chính xác điểm xuất xứ ban đầu”, ông Nam lưu ý.
Theo ông Nam, quá trình theo dõi phải được duy trì liên tục qua các khâu thu gom, thương mại, chế biến và sản xuất. Tại từng công đoạn, doanh nghiệp cần nắm rõ ai đang kiểm soát nguyên liệu, vào thời điểm nào, khối lượng bao nhiêu và chuyển giao cho đơn vị nào. Đây chính là cơ sở để kết nối chuỗi dữ liệu thông suốt từ vùng nguyên liệu đến thành phẩm cuối cùng.
Từ việc theo dõi đường đi của nguyên liệu, ông Nam cho rằng doanh nghiệp cần xác định phần nguồn cung nào đã được chứng nhận, phần nào còn thiếu hồ sơ. Theo nội dung truy xuất chuỗi cung ứng trong tiêu chuẩn ngành GRI 13, tỉ lệ nguồn cung được chứng nhận được tính trên khối lượng nguyên liệu có chứng nhận so với tổng khối lượng thu mua của từng sản phẩm.
Với những nhà cung cấp chưa đáp ứng yêu cầu truy xuất, doanh nghiệp cần đánh giá nguyên nhân, hỗ trợ đào tạo và hoàn thiện hồ sơ, dữ liệu. Kết quả này cũng là căn cứ để doanh nghiệp lựa chọn, phê duyệt và tiếp tục giám sát nhà cung cấp trong quá trình thu mua.

Dữ liệu truy xuất sẽ là bằng chứng cho báo cáo ESG
Theo ông Nam, khi xác định được nguồn nguyên liệu và các hoạt động trong chuỗi, doanh nghiệp có thể sử dụng dữ liệu truy xuất để phục vụ đánh giá môi trường, xã hội. Thông tin về nhà cung cấp và địa điểm sản xuất giúp xác định nơi cần thu thập dữ liệu về sử dụng nước, năng lượng, phát thải cũng như kiểm tra điều kiện lao động, sức khỏe và an toàn.
Chẳng hạn, để tính phát thải khí nhà kính phạm vi 3, tức các phát thải gián tiếp trong chuỗi giá trị, doanh nghiệp cần biết khối lượng nguyên liệu, địa điểm sản xuất, phương thức và quãng đường vận chuyển. Những thông tin này được kết hợp với dữ liệu về năng lượng, quá trình sản xuất và hệ số phát thải để thực hiện tính toán.
Ở khía cạnh xã hội, việc xác định rõ nhà cung cấp, địa điểm và hoạt động sản xuất là cơ sở để đánh giá các nguy cơ liên quan đến lao động trẻ em, lao động cưỡng bức hoặc điều kiện làm việc không an toàn. Qua đánh giá, doanh nghiệp có thể thống nhất biện pháp cải thiện với nhà cung cấp và theo dõi kết quả thực hiện.
Dữ liệu truy xuất còn phục vụ việc kiểm soát an toàn sản phẩm. Khi xảy ra sự cố, doanh nghiệp có thể lần ngược từ thành phẩm đến lô hàng, nhà cung cấp và nguồn nguyên liệu để xác định phạm vi cần thu hồi.
Chuẩn hóa hồ sơ phải làm ngay từ từng lô hàng
Về cách tổ chức hệ thống truy xuất, ThS. Đặng Bùi Khuê, Cố vấn cấp cao Công ty Tư vấn và Đào tạo SMP, cho biết doanh nghiệp cần chuẩn hóa thông tin sản phẩm và lô hàng, xác định tiêu chuẩn áp dụng, đồng thời duy trì hồ sơ để sẵn sàng cung cấp khi kiểm tra.
Các thông tin cần quản lý gồm tên, hình ảnh sản phẩm; tên và địa chỉ đơn vị sản xuất, kinh doanh; xuất xứ; thương hiệu, nhãn hiệu; số lô, mẻ hoặc số sê-ri, hạn sử dụng nếu có và tiêu chuẩn áp dụng. Bên cạnh đó, hệ thống cần ghi nhận những sự kiện theo dõi trọng yếu cùng thời gian tương ứng trong quá trình sản xuất, chuyển giao và lưu thông.
Như vậy, ngoài thông tin nhận diện hàng hóa, hồ sơ còn phải thể hiện được quá trình hàng hóa đi qua từng khâu. Việc gắn dữ liệu với sản phẩm, lô hàng giúp doanh nghiệp có căn cứ truy ngược và cung cấp thông tin khi cần kiểm tra.
