Thu nhập nông dân tăng gấp 3 lần - phép thử của đô thị nông nghiệp thông minh TP.HCM
Với mục tiêu nâng thu nhập bình quân của người dân nông thôn tăng gấp 2,5 - 3 lần vào năm 2030 so với năm 2020, TP.HCM đang thực hiện một "cuộc đại phẫu" về cấu trúc kinh tế nông nghiệp.

Đây không chỉ là một con số khát vọng, mà là lời giải cho bài toán khó: Làm sao để nông nghiệp từ chỗ "lép vế" trong lòng một siêu đô thị, có thể trở thành ngành kinh tế có giá trị gia tăng cao và bền vững?
Những con số đầy tham vọng nhằm tăng thu nhập nông dân
UBND TP.HCM vừa ban hành Kế hoạch thực hiện Chương trình hành động về nông nghiệp, nông dân, nông thôn đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045.
Thành phố đặt mục tiêu ngành nông nghiệp đạt tốc độ tăng trưởng GRDP bình quân khoảng 2,5%/năm. Năng suất lao động tăng khoảng 8%/năm.
Sự tự tin này dựa trên nền tảng của Luật Đô thị đặc biệt, cho phép thành phố chủ động phân cấp, phân quyền và thí điểm các mô hình kinh tế mới.
Nhờ hành lang pháp lý linh hoạt, TP.HCM có thể gỡ bỏ những nút thắt quy hoạch. Tạo điều kiện chuyển đổi sản xuất manh mún sang vùng chuyên canh công nghệ cao.
Đây là bệ phóng để hiện thực hóa mục tiêu 100% số xã đạt chuẩn nông thôn mới, 50% đạt chuẩn hiện đại. Đồng thời xóa bỏ hoàn toàn hộ nghèo theo chuẩn riêng vào năm 2030.
Tất cả nhằm hướng tới mục tiêu: nâng thu nhập bình quân của người dân nông thôn tăng gấp 2,5 - 3 lần vào năm 2030 so với năm 2020.
Dịch chuyển từ năng suất sản lượng sang giá trị tích hợp
Để thu nhập tăng gấp 3 lần, thành phố không thể tiếp tục đặt cược vào sản lượng thô.
Chiến lược mới tập trung vào ba trụ cột. Trong đó, nông nghiệp trải nghiệm giúp doanh thu tăng gấp 5 - 10 lần trên mỗi hecta. Công nghiệp chế biến sâu giúp giữ lại 30 - 50% giá trị gia tăng. Và nông nghiệp "tầng cao" với nhà màng, thủy canh tối ưu giá trị trên quỹ đất hạn hẹp.
Đặc biệt, chuyển đổi số được xác định là “xương sống”. 100% hoạt động quản lý nhà nước của ngành sẽ được thực hiện trên nền tảng số. Trên 80% hợp tác xã, doanh nghiệp và hơn 70% hộ nông dân ứng dụng công nghệ số. Hơn 90% dịch vụ công trực tuyến được cung cấp toàn trình.
Cùng với đó, thành phố cam kết mục tiêu xanh với 100% tỷ lệ thu gom, xử lý chất thải rắn sinh hoạt khu vực nông thôn. Đồng thời duy trì độ che phủ rừng ở mức 11%.
Xung đột và phân hóa: Khó tránh
Quyết tâm lớn là vậy. Nhưng sự phân hóa giữa nông dân kỹ thuật cao và nhóm nhỏ lẻ truyền thống vẫn đáng lo ngại.
Áp lực đô thị hóa khiến giá đất phi nông nghiệp cao gấp hàng chục lần đất nông nghiệp. Việc này tạo ra lực hút, khiến các vùng chuyên canh dễ bị chia nhỏ.
Nếu không sớm có khung pháp lý bảo hộ nghiêm ngặt cho các vành đai xanh, thì nguy cơ xóa sổ vùng chuyên canh, hoàn toàn có thể xảy ra.

Thách thức lớn hơn cả chính là cú sốc công nghệ. Dễ thấy, đang hình thành 2 bộ phận nông dân trong một không gian sản xuất của TP.HCM.
Lớp trẻ năng động tiếp cận tốt các hệ thống canh tác chính xác hay các sàn giao dịch điện tử. Số đông còn lại là lao động truyền thống vẫn đang loay hoay với kinh nghiệm canh tác cũ.
Sự lệch pha này tạo ra khoảng cách giàu nghèo ngay trong nội tại khu vực nông thôn.
Nếu không có các gói giải pháp đào tạo chuyên biệt, tạo nền và thúc đẩy các HTX mạnh hơn, thì mục tiêu thu nhập tăng gấp 3 lần sẽ vô tình trở thành đặc quyền của nhóm thiểu số có vốn và có trình độ.
Việc hỗ trợ người nông dân nhỏ lẻ chuyển đổi không chỉ là vấn đề kỹ thuật. Đó còn là hành trình giải phóng tư duy. Đây chính là mấu chốt để bảo đảm sự thịnh vượng mang tính bao trùm, giúp mọi hộ dân đều thụ hưởng thành quả từ quá trình chuyển đổi số của thành phố.
Chính sách đòn bẩy và "lá chắn" tài chính
Để đạt được mục tiêu đó, tư duy chính sách cần dịch chuyển mạnh mẽ. Phải đi từ vai trò cấp vốn dàn trải sang kiến tạo một hệ sinh thái tài chính, thị trường đồng bộ.
Với cơ chế đặc thù, thành phố có thể tiên phong thiết lập Quỹ bảo hiểm nông nghiệp đô thị, trở thành "lá chắn" rủi ro cho các dự án vốn lớn.
Thực tế cho thấy, rào cản lớn nhất khiến nông dân ngại đầu tư công nghệ cao không phải là thiếu kỹ năng, mà là nỗi sợ trắng tay trước dịch bệnh hoặc thiên tai.
Khi chính quyền hỗ trợ phí bảo hiểm, cung cấp các gói tín dụng ưu đãi gắn liền với bảo hiểm, đó không chỉ là sự hỗ trợ tài chính, mà là sự bảo chứng niềm tin để nông dân mạnh dạn tái đầu tư.
Đồng thời, chính quyền cần đóng vai trò "nhạc trưởng" thực thụ trong việc kết nối chuỗi.
Thay vì chỉ là nhà quản lý, chính quyền sẽ là đơn vị trung gian bảo lãnh tín dụng, thông qua các hợp đồng bao tiêu giữa nông dân và các tập đoàn phân phối lớn.
Cơ chế này giải quyết triệt để bài toán đầu ra, vốn là “cửa tử” của nông nghiệp Việt Nam. Khi đó, nông dân được đặt vào một hệ sinh thái cung ứng minh bạch.
Giá trị sản phẩm họ làm ra được định giá dựa trên tiêu chuẩn chất lượng, thay vì bị ép giá qua các khâu trung gian.
Khi dòng vốn ngân hàng được dẫn dắt, chảy trực tiếp vào sản xuất bền vững thay vì bất động sản, người nông dân sẽ thực sự trở thành những doanh nhân nông nghiệp. Có như thế, họ mới tự tin làm chủ chuỗi giá trị, tạo nên bệ đỡ tài chính vững chắc và lâu dài.
Nông nghiệp của trí tuệ và sự kết nối toàn cầu
Hướng tới năm 2045, TP.HCM xác lập tầm nhìn xây dựng đội ngũ nông dân văn minh, có trình độ, kỹ năng và thu nhập cao.
Nông nghiệp lúc này không chỉ là nghề canh tác, mà là ngành kinh tế sinh thái, sản xuất hàng hóa quy mô lớn, gắn chặt với chuỗi cung ứng và thị trường quốc tế.
TP.HCM sẽ là bộ não, là trung tâm nghiên cứu giống, AI phân tích dữ liệu và logistics lạnh. Trong khi đó, các tỉnh lân cận giữ vai trò cung cấp nguyên liệu sản xuất.
Việc xây dựng một “bản đồ số nông nghiệp" thời gian thực, cập nhật nhu cầu thị trường và dự báo giá chính, là yêu cầu bắt buộc, để sản xuất, sản phẩm và thị trường bền vững.
Khi tư duy quản trị được chuyển đổi sang hệ sinh thái kinh tế số, con số tăng trưởng gấp 3 lần không còn là mục tiêu viển vông. Nó sẽ là kết quả tất yếu của một nền nông nghiệp đô thị thông minh, minh chứng cho vị thế của trung tâm kinh tế lớn nhất cả nước.


