Thị trường nông sản 28/8: Cà phê chìm trong sắc đỏ, heo hơi miền Bắc đứt mạch tăng
Thị trường nông sản sáng nay ghi nhận giá cà phê nội địa tiếp tục chịu áp lực điều chỉnh giảm. Mặt hàng hồ tiêu cùng cao su trong nước duy trì thế ổn định, giá heo hơi tại miền Bắc hạ nhẹ.
Cà phê đồng loạt lao dốc theo thị trường thế giới
Thị trường nông sản sáng nay ghi nhận cà phê nội địa tiếp tục một phiên giảm giá tại các vùng trọng điểm, đưa mức thu mua bình quân lùi về 96.300 đồng/kg. Cụ thể, giảm từ 700 đồng đến 800 đồng/kg so với ngày hôm trước.
Theo giacaphe.com, khu vực Đắk Nông (nay thuộc Lâm Đồng) hiện thu mua ở mức cao nhất 96.500 đồng/kg sau khi hạ 700 đồng/kg.
Đắk Lắk và Gia Lai cùng ghi nhận mức giảm 800 đồng/kg, đưa giá thu mua về 96.200 đồng/kg.
Còn khu vực Lâm Đồng cũ vẫn là địa phương có mức giá thấp nhất khu vực khi lùi về 95.700 đồng/kg sau nhịp giảm 800 đồng/kg.
Sức ép giảm giá trong nước xuất phát từ đà lao dốc mạnh của các sàn giao dịch kỳ hạn thế giới.
Cụ thể, khép lại phiên giao dịch hôm qua, giá cà phê Robusta kỳ hạn tháng 9/2026 trên sàn London giảm 1,95%, tương đương 70 USD /tấn, xuống còn 3.518 USD /tấn. Hợp đồng kỳ hạn tháng 11/2026 cũng giảm 1,63%, tương đương 59 USD/tấn, chốt tại 3.555 USD/tấn.
Cùng chiều giảm, giá Arabica trên sàn New York giao tháng 9/2026 giảm sâu 4,39%, tương đương 15,7 US cent/pound, còn 341,9 US cent/pound. Kỳ hạn tháng 12/2026 mất 3,88%, tương đương 12,5 US cent/pound, về mức 309,65 US cent/pound.

Thị trường nông sản ghi nhận hồ tiêu giữ vững thế cân bằng
Giá hồ tiêu trong nước sáng nay dao động trong biên độ 136.000 đến 138.500 đồng/kg.
Cập nhật từ giatieu.com cho thấy, mức giá thu mua cao nhất ghi nhận tại khu vực Đắk Nông (nay thuộc Lâm Đồng) với 138.500 đồng/kg. Kế tiếp là Đắk Lắk với 138.000 đồng/kg.
Gia Lai và khu vực Bà Rịa - Vũng Tàu (nay thuộc TP.HCM) cùng giữ mức 136.500 đồng/kg. Còn Đồng Nai hiện neo ở mức thấp nhất là 136.000 đồng/kg.
Trên thị trường quốc tế, giá tiêu xuất khẩu tại các quốc gia cung ứng lớn không có biến động mới theo niêm yết của Hiệp hội Hồ tiêu Quốc tế.
Cụ thể, giá tiêu đen Indonesia duy trì ở mức 6.897 USD/tấn. Tiêu đen ASTA 570 của Brazil ở mức 5.800 USD/tấn và Malaysia đạt 9.300 USD/tấn.
Đối với Việt Nam, giá tiêu đen xuất khẩu loại 500 g/l và 550 g/l tiếp tục dao động trong khoảng 5.990 đến 6.050 USD/tấn.
Ở phân khúc tiêu trắng, Indonesia niêm yết dòng Muntok ở mức 9.443 USD/tấn. Trong khi đó, tiêu trắng Việt Nam và Malaysia lần lượt giữ nguyên giá chào bán ở 8.400 USD/tấn và 12.200 USD/tấn.
Lúa gạo ĐBSCL chịu áp lực giảm nhẹ
Theo khảo sát từ một số nguồn và luagaoviet.com cho thấy, sáng nay tại khu vực ĐBSCL, thị trường lúa gạo có xu hướng phân hóa và nghiêng nhẹ về chiều giảm.
Cụ thể, ở nhóm gạo nguyên liệu phục vụ xuất khẩu, hai chủng loại IR 504 và CL 555 chịu áp lực điều chỉnh mạnh nhất khi cùng giảm khoảng 150 đồng/kg, lùi về khoảng 9.100 đến 9.200 đồng/kg.
Các loại gạo nguyên liệu khác tiếp tục giữ giá, với OM 5451 neo trong khoảng 9.300 đến 9.400 đồng/kg. Đài Thơm 8 ở mức 9.200 đến 9.400 đồng/kg và OM 18 dao động 8.700 đến 8.850 đồng/kg.
Đối với lúa tươi, giá thu mua tại nhiều địa phương vẫn diễn biến trầm lắng. Lúa OM 5451 giảm khoảng 100 đồng/kg xuống 6.500 đến 6.600 đồng./kg. OM 34 cũng lùi về mức 6.000 đến 6.100 đồng/kg.
Dòng lúa thơm OM 18 và Đài Thơm 8 duy trì vùng giá 6.800 đến 7.000 đồng/kg, còn IR 50404 ổn định quanh ngưỡng 6.300 đến 6.400 đồng/kg.
Trên thị trường xuất khẩu, giá gạo Việt Nam chưa có động lực mới khi gạo thơm 5% tấm dao động quanh 500 đến 505 USD/tấn. Gạo thơm 100% tấm giữ mức 370 đến 374 USD/tấn và Jasmine ở mức 538 đến 542 USD/tấn.
Mặt bằng này tiếp tục chịu sức ép cạnh tranh khi gạo 5% tấm của Thái Lan duy trì 450 đến 454 USD/tấn và Ấn Độ neo ở vùng giá thấp 360 đến 364 USD/tấn.
Sầu riêng vẫn phân hóa theo chất lượng và vùng miền
Thị trường sầu riêng sáng 28/8 ghi nhận sự điều chỉnh không đồng đều giữa các khu vực khi giá sầu Thái tại Tây Nguyên chịu áp lực giảm, trong khi các tỉnh Nam Bộ giữ mức ổn định.
Khảo sát từ một số kho thu mua và giasaurieng.net cho thấy, tại ĐBSCL, sầu Thái loại A được thu mua từ 73.000 đến 80.000 đồng/kg, loại B từ 53.000 đến 65.000 đồng/kg. Ri6 loại A tại đây giữ giá 35.000 đến 40.000 đồng kg và loại B từ 20.000 đến 30.000 đồng/kg.
Tại Đồng Nai, sầu Thái loại A neo ở mức 70.000 đồng/kg, loại B 45.000 đồng/kg. Ri6 loại A đạt 37.000 đến 40.000 đồng/kg. Musang King loại A từ 65.000 đến 70.000 đồng/kg.
Tại khu vực Tây Nguyên, cụ thể ở Đắk Lắk, sầu Thái hàng đẹp loại A có giá khoảng 80.000 đồng/kg, loại B 60.000 đồng/kg. Sầu Thái tiêu chuẩn loại A tại đây dao động 70.000 đến 75.000 đồng/kg, loại B từ 50.000 đến 62.000 đồng/kg. Ri6 loại A đạt 35.000 đồng/kg. Musang King loại A giữ mức 76.000 đồng/kg.
Còn ở Gia Lai, sầu Thái loại A điều chỉnh về 68.000 đến 71.000 đồng/kg, loại B khoảng 48.000 đồng/kg. Ri6 loại A giao dịch ở mức 35.000 đồng/kg.
Heo hơi miền Bắc hạ nhiệt nhẹ
Giá heo hơi sáng nay tại miền Bắc ghi nhận nhịp giảm 1.000 đồng/kg tại một số tỉnh như Cao Bằng, Quảng Ninh và Ninh Bình, cùng lùi về mức 59.000 đồng/kg.
Hiện khu vực miền Bắc duy trì khung giá thu mua từ 59.000 đến 60.000 đồng/kg. Trong đó mức đỉnh 60.000 đồng/kg tập trung tại Hà Nội, Bắc Ninh, Hải Phòng, Phú Thọ và Hưng Yên.
Tại miền Trung và Tây Nguyên, thị trường duy trì xu hướng lặng sóng trong khoảng 57.000 đến 58.000 đồng/kg.
Các tỉnh Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Trị, Thừa Thiên Huế và Lâm Đồng cùng đạt mốc cao nhất khu vực 58.000 đồng/kg. Các địa phương còn lại gồm Đà Nẵng, Quảng Ngãi, Gia Lai, Đắk Lắk và Khánh Hòa thu mua ở mức 57.000 đồng/kg.
Tại miền Nam, mức giá cũng đi ngang từ 57.000 đến 58.000 đồng/kg. Đồng Nai, Tây Ninh, TP.HCM và Vĩnh Long dẫn đầu với 58.000 đồng/kg. Đồng Tháp, An Giang, Cà Mau và Cần Thơ neo ở mức 57.000 đồng/kg.
Cao su trong nước ổn định, thế giới khởi sắc
Thị trường mủ cao su nội địa sáng nay tiếp tục duy trì chính sách thu mua bình ổn từ các doanh nghiệp lớn.
Cụ thể, Công ty Bình Long công bố giá mủ nước tại nhà máy đạt 540 đồng/độ TSC/kg, tại đội sản xuất đạt 530 đồng/TSC/kg.
Công ty MangYang niêm yết mủ nước từ 458 đến 463 đồng/TSC tùy loại, mủ đông tạp dao động 404 đến 459 đồng/DRC.
Công ty Cao su Bà Rịa thu mua mủ nước ở mức 420 đồng/độ TSC/kg đối với độ TSC từ 25 đến dưới 30. Công ty Phú Riềng duy trì mủ nước ở mức 420 đồng/TSC và mủ tạp đạt 390 đồng/DRC.
Trên thị trường quốc tế, lo ngại thiếu hụt nguồn cung do mưa lớn kéo dài tại các vùng trồng Đông Nam Á đã thúc đẩy sắc xanh trên các sàn giao dịch kỳ hạn.
Đóng cửa phiên hôm qua cho thấy, giá cao su kỳ hạn tháng 9 trên sàn OSE Nhật Bản tăng 1,39%, tương đương 6,3 yên, lên mức 460 yên/kg.
Trên sàn SHFE Thượng Hải, hợp đồng kỳ hạn tháng 9 tăng 0,97%, tương đương 170 nhân dân tệ, đạt 17.680 nhân dân tệ /tấn.
Riêng tại thị trường nội địa Thái Lan, giá cao su RSS3 điều chỉnh giảm nhẹ 0,2 baht, về mức 82 baht/kg.

.jpg)
