Giá cả

Thị trường nông sản 11/7: Cà phê bứt tốc tiến sát 100.000 đồng/kg, lúa gạo và hồ tiêu đi ngang

HẢI ĐÔNG 11/07/2026 08:34

Sáng 11/7, thị trường nông sản chứng kiến sự bứt phá mạnh mẽ của cà phê khi giá trong nước tăng tới 6.100 đồng/kg, Arabica thế giới vọt hơn 10%. Trái ngược với sức nóng này, lúa gạo, hồ tiêu và cao su tiếp tục chuỗi ngày tĩnh lặng.

Cà phê tăng 'sốc' trên mọi mặt trận

Thị trường nông sản sáng nay ghi nhận giá cà phê trong nước bật tăng rất mạnh, dao động trong khoảng 97.900 đến 98.400 đồng/kg.

Cập nhật từ giacaphe.com cho thấy, khu vực Đắk Nông (nay thuộc Lâm Đồng) đang thu mua ở mức cao nhất toàn miền là 98.400 đồng/kg. Tương ứng mức tăng 6.100 đồng/kg so với phiên trước.

Bám sát ngay sau là Gia Lai với mức giao dịch 98.300 đồng/kg, tăng 6.000 đồng/kg.

Đắk Lắk cũng ghi nhận mức tăng tương tự, đẩy giá thu mua lên 98.200 đồng/kg.

Mức giá thấp nhất khu vực là 97.900 đồng/kg được ghi nhận tại Lâm Đồng (cũ), dẫu vậy địa phương này vẫn có biên độ tăng tới 6.100 đồng/kg.

Trên thị trường quốc tế, hai sàn giao dịch lớn cũng chứng kiến những nhịp tăng phi mã.

Cụ thể, tại sàn London, hợp đồng Robusta kỳ hạn giao tháng 7/2026 tăng 4,39%, tương đương mức tăng 171 USD/tấn, đẩy giá bán lên mốc 4.063 USD/tấn.

Đáng chú ý hơn, hợp đồng Arabica trên sàn New York kỳ hạn tháng 7/2026 tăng tới 10,08%, vọt thêm 32,70 cent/lb và chốt phiên ở mức 356,95 cent/lb.

Thị trường nông sản sáng 11/7 chứng kiến sự bứt phá mạnh mẽ của cà phê khi giá trong nước tăng tới 6.100 đồng/kg
Thị trường nông sản sáng 11/7 chứng kiến sự bứt phá mạnh mẽ của cà phê khi giá trong nước tăng tới 6.100 đồng/kg

Thị trường nông sản ghi nhận hồ tiêu duy trì mặt bằng giá tốt

Thị trường hồ tiêu trong nước sáng nay không có biến động mới và bước vào nhịp nghỉ ngơi sau chuỗi ngày tăng nóng.

Dù vậy, giá thu mua tại các vùng nguyên liệu trọng điểm vẫn neo ở vùng đỉnh, dao động từ 138.000 đến 141.000 đồng/kg.

Cụ thể, theo giatieu.com, khu vực Đắk Nông (nay thuộc Lâm Đồng) tiếp tục là nơi dẫn đầu cả nước với 141.000 đồng/kg.

Đứng thứ hai là Đắk Lắk với 140.000 đồng/kg, tiếp đến là khu vực Bà Rịa - Vũng Tàu (nay thuộc TP.HCM) đạt 139.000 đồng/kg.

Gia Lai và Đồng Nai cùng chia sẻ mức giá 138.000 đồng/kg, thấp nhất trong các khu vực khảo sát.

Cập nhật từ Hiệp hội Hồ tiêu Quốc tế cho thấy giá tiêu toàn cầu gần như đi ngang.

Tiêu đen Indonesia giao dịch ở mức 7.121 USD/tấn, tiêu đen Brazil loại ASTA 570 giữ mốc 5.900 USD/tấn. Tiêu đen Malaysia chào bán ở mức 9.350 USD/tấn.

Đối với hàng xuất khẩu của Việt Nam, loại 500 g/l và 550 g/l tiếp tục giữ vững trong khoảng 6.100 đến 6.200 USD/tấn.

Ở phân khúc tiêu trắng, Việt Nam niêm yết 9.000 USD/tấn, đứng sau Indonesia với 9.253 USD/tấn và Malaysia với 12.250 USD/tấn.

Giá lúa gạo nội địa bình ổn, xuất khẩu chững lại

Khảo sát tại một số kho thu mua tại vựa lúa ĐBSCL, cho thấy thị trường giao dịch khá yên ắng.

Giá gạo nguyên liệu xuất khẩu phân hóa theo từng giống. Dòng IR 504 dao động 8.950 đến 9.050 đồng/kg. Gạo CL 555 giao dịch 9.400 đến 9.500 đồng/kg. OM 5451 nhỉnh hơn ở mức 9.500 đến 9.600 đồng/kg.

Các giống khác như OM 18 đạt 8.700 đến 8.850 đồng/kg, Đài Thơm 8 từ 9.200 đến 9.400 đồng/kg.

Nhóm gạo OM 380 và Sóc thơm cùng chia sẻ mức giá 7.500 đến 7.600 đồng/kg.

Đối với gạo thành phẩm, giống IR 504 đang được thu mua trong khoảng 10.750 đến 10.900 đồng/kg.

Tương tự, giá lúa tươi tại ruộng không ghi nhận nhiều biến động. Lúa Đài Thơm 8 dẫn đầu với 6.450 đến 6.600 đồng/kg. Bám sát là OM 18 với 6.300 đến 6.500 đồng/kg.

Các giống lúa phổ thông như IR 50404, OM 5451 và OM 34 được thương lái thu mua quanh ngưỡng 5.600 đến 5.800 đồng/kg.

Trên thị trường quốc tế, giá gạo xuất khẩu của Việt Nam tiếp tục đứng giá.

Dữ liệu từ Hiệp hội Lương thực Việt Nam ghi nhận gạo Jasmine chào bán 513 đến 517 USD/tấn. Gạo thơm 5% tấm và 100% tấm lần lượt giữ mốc 510 đến 520 USD/tấn và 348 đến 352 USD/tấn.

Nhìn sang các đối thủ cạnh tranh, gạo 5% tấm của Thái Lan đang giao dịch từ 478 đến 482 USD/tấn. Ấn Độ có giá thấp hơn hẳn, chỉ 350 đến 354 USD/tấn.

Gạo 100% tấm của Thái Lan và Ấn Độ lần lượt neo ở mức 409 đến 413 USD/tấn và 280 đến 284 USD/tấn.

Sầu riêng ổn định, Black Thorn giữ vững vùng giá tốt

Khảo sát tại một số kho thu mua và giasaurieng.net cho thấy, hoạt động thu mua sầu riêng tại các nhà vườn diễn ra bình ổn.

Mức giá cao nhất toàn thị trường tiếp tục thuộc về dòng sầu riêng Black Thorn, đạt 110.000 đồng/kg đối với hàng loại A và 90.000 đồng/kg đối với hàng loại B.

Tại ĐBSCL, giống sầu Thái loại A có giá từ 59.000 đến 63.000 đồng/kg, loại B từ 39.000 đến 43.000 đồng/kg. Dòng Ri6 loại A tại đây dao động 35.000 đến 40.000 đồng/kg.

Ở khu vực Tây Ninh, sầu Thái loại A ghi nhận mức giá khá tốt, từ 66.000 đến 67.000 đồng/kg.

Tại Đồng Nai, sầu Thái loại A neo ở 61.000 đến 63.000 đồng/kg, sầu Ri6 loại A dừng ở 35.000 đồng/kg.

Còn tại Đắk Lắk, thương lái đang thu mua sầu Thái loại A với giá từ 62.000 đến 67.000 đồng/kg.

Heo hơi đi ngang

Biểu đồ giá heo hơi hôm nay trên cả ba miền, dao động từ 61.000 đến 66.000 đồng/kg.

Cụ thể, miền Bắc tiếp tục khẳng định vị thế là khu vực có mặt bằng giá cao nhất, từ 65.000 đến 66.000 đồng/kg.

Mức đỉnh 66.000 đồng/kg được ghi nhận tại Quảng Ninh, Bắc Ninh, Hà Nội, Hải Phòng, Điện Biên và Hưng Yên. Các tỉnh thành còn lại trong vùng đồng loạt giao dịch ở 65.000 đồng/kg.

Miền Trung và Tây Nguyên có khoảng giá rộng hơn, từ 61.000 đến 65.000 đồng/kg.

Thanh Hóa và Nghệ An đạt mức cao nhất 65.000 đồng/kg, Hà Tĩnh và Quảng Trị bám sát với 64.000 đồng/kg. Mức thấp nhất khu vực là 61.000 đồng/kg thuộc về Khánh Hòa và Lâm Đồng.

Tại miền Nam, Đồng Nai và TP.HCM dẫn đầu với 63.000 đồng/kg. Tây Ninh, Vĩnh Long, Cần Thơ neo ở mức 62.000 đồng/kg. Các tỉnh Đồng Tháp, An Giang và Cà Mau có mức giao dịch thấp nhất miền, chốt ở 61.000 đồng/kg.

Cao su trong nước tĩnh lặng, thế giới phân hóa

Thị trường mủ cao su nội địa không ghi nhận sự thay đổi về giá.

Cụ thể, tại Công ty Cao su Mang Yang, mủ nước loại 1 và loại 2 lần lượt đạt 463 và 458 đồng/TSC/kg, trong khi mủ đông tạp dao động từ 404 đến 459 đồng/kg.

Công ty Phú Riềng thu mua mủ nước 420 đồng/TSC/kg và mủ tạp 390 đồng/DRC/kg.

Tại Công ty Bà Rịa, mủ nước được phân loại theo nồng độ TSC với mức giá từ 442 đến 452 đồng/độ TSC/kg, mủ tạp dao động từ 13.500 đến 18.000 đồng/kg.

Công ty Bình Long chốt giá mủ nước từ 535 đến 545 đồng/độ TSC/kg.

Bức tranh cao su thế giới lại cho thấy những mảng màu đối lập.

Trên sàn giao dịch Thượng Hải, giá cao su tự nhiên bật tăng trở lại ở các kỳ hạn từ tháng 8 đến tháng 10 năm 2026, đạt mức 16.935 đến 16.960 CNY/tấn.

Tại Nhật Bản, diễn biến giằng co thể hiện rõ khi các kỳ hạn trên sàn Tokyo chỉ nhích nhẹ hoặc giảm biên độ thấp, dao động quanh ngưỡng 415 đến 418 JPY/kg.

Còn tại sàn Singapore, sắc đỏ bao trùm khi hợp đồng TSR20 kỳ hạn tháng 8/2026 giảm 1,10% xuống còn 214,80 Cent/kg.

    Nổi bật
        Mới nhất
        Thị trường nông sản 11/7: Cà phê bứt tốc tiến sát 100.000 đồng/kg, lúa gạo và hồ tiêu đi ngang
        • Mặc định

        POWERED BY ONECMS - A PRODUCT OF NEKO