Thị trường nông sản 1/6: Cà phê thế giới chìm trong sắc đỏ, tiêu và heo hơi mất đà tăng
Bức tranh thị trường nông sản ngày đầu tháng 6 chứng kiến nhiều biến động. Trong khi giá cà phê trên các sàn giao dịch quốc tế đồng loạt suy yếu do áp lực bán mạnh, thị trường trong nước cũng ghi nhận sự chững lại của hồ tiêu và heo hơi sau chuỗi ngày neo ở mức cao, phản ánh sự điều chỉnh tất yếu khi sức mua chưa thực sự bứt phá.
Cà phê chững lại sau nhịp giảm sâu, thị trường thế giới chìm trong sắc đỏ
Thị trường nông sản sáng 1/6 ghi nhận giá cà phê trong nước duy trì sự ổn định sau phiên giảm sâu vào cuối tháng 5.
Theo giacaphe.com, tại các tỉnh Tây Nguyên, giá cà phê nhân xô dao động trong khoảng 86.800 đến 87.400 đồng/kg, với mức giá bán trung bình đạt 87.300 đồng/kg.
Lâm Đồng (cũ) hiện là địa phương ghi nhận mức giá thấp nhất với 86.800 đồng/kg.
Tại Gia Lai và Đắk Lắk, cà phê cùng được thu mua ở mức 87.300 đồng/kg, trong khi khu vực Đắk Nông (Lâm Đồng) duy trì mức giá cao nhất toàn vùng là 87.400 đồng/kg.
Trái ngược với sự ổn định trong nước, thị trường thế giới tiếp tục xu hướng suy yếu.
Đóng cửa phiên giao dịch cuối tuần trước trên sàn London, giá cà phê robusta đồng loạt giảm ở các kỳ hạn chính. Hợp đồng giao tháng 7 giảm 78 USD/tấn xuống còn 3.476 USD/tấn.
Kỳ hạn tháng 9 mất 68 USD/tấn, lùi về mức 3.347 USD/tấn. Hợp đồng tháng 12 cũng giảm 66 USD/tấn, chỉ còn 3.272 USD/tấn.
Trên sàn New York, giá cà phê arabica chịu áp lực bán mạnh hơn do triển vọng sản lượng khả quan tại Brazil. Hợp đồng giao tháng 7 giảm 8,65 cent/lb xuống 265,60 cent/lb.
Các kỳ hạn tháng 9 và tháng 12 cũng lần lượt giảm 8 cent/lb và 7,70 cent/lb, lùi về các mức 258,70 cent/lb và 251,20 cent/lb.

Giá tiêu đánh dấu tuần giảm thứ hai liên tiếp, xuất khẩu vẫn là điểm sáng
Cập nhật của giatieu.com sáng nay cho thấy, tại vùng nguyên liệu trọng điểm cho thấy giá tiêu trong nước đang dao động từ 137.000 đến 142.000 đồng/kg, giảm từ 2.000 đến 3.000 đồng/kg so với tuần trước.
Đây là tuần giảm thứ hai liên tiếp sau giai đoạn thị trường tăng nóng.
Đồng Nai ghi nhận mức giảm mạnh nhất khi mất 3.000 đồng/kg, kéo giá thu mua xuống còn 137.000 đồng/kg. Cùng mức giá này là Gia Lai sau khi giảm 2.000 đồng/kg.
Tại Bà Rịa Vũng Tàu (TP.HCM), giá tiêu giảm 2.000 đồng/kg xuống mức 139.000 đồng/kg. Đắk Lắk và Đắk Nông tiếp tục dẫn đầu cả nước với mức 142.000 đồng/kg, không biến động trong suốt tuần qua.
Trên thị trường quốc tế, giá tiêu diễn biến trái chiều. Theo Hiệp hội Hồ tiêu Quốc tế, giá tiêu đen Indonesia tăng 173 USD/tấn lên 7.152 USD/tấn, trong khi tiêu đen Brazil giảm 150 USD/tấn xuống mức 6.100 USD/tấn.
Giá tiêu đen Malaysia đi ngang ở mức 9.350 USD/tấn. Tại Việt Nam, giá tiêu đen xuất khẩu duy trì trong khoảng 6.100 đến 6.200 USD/tấn.
Đối với tiêu trắng, Indonesia tăng giá lên 9.231 USD/tấn, còn Malaysia và Việt Nam giữ nguyên lần lượt ở mức 12.250 USD/tấn và 9.000 USD/tấn.
Hoạt động xuất khẩu đang là lực đỡ lớn nhất cho ngành. Theo Cục Xuất nhập khẩu (Bộ Công thương), nửa đầu tháng 5, Việt Nam xuất khẩu 10.140 tấn hồ tiêu, thu về 66,5 triệu USD.
Lũy kế từ đầu năm đến ngày 15/5, xuất khẩu đạt 106.947 tấn, mang về 689,3 triệu USD, tăng 27,1% về lượng và 18,3% về giá trị so với cùng kỳ năm ngoái.
Lúa gạo giữ nhịp ổn định, phân khúc chất lượng cao duy trì lợi thế
Thị trường lúa gạo bước sang tháng 6 với mặt bằng giá vững vàng trên diện rộng. Nhóm lúa chất lượng cao tiếp tục được doanh nghiệp chế biến và xuất khẩu săn đón.
Cập nhật từ luagaoviet.com cho thấy, giá lúa tươi OM 18 và Đài Thơm 8 nằm trong nhóm giá cao nhất, dao động từ 6.500 đến 6.700 đồng/kg.
Lúa tươi OM 5451 giao dịch từ 5.800 đến 6.000 đồng/kg. Lúa tươi IR 50404 và OM 34 lần lượt đạt 5.400 đến 5.500 đồng/kg và 5.100 đến 5.200 đồng/kg.
Về gạo nguyên liệu thành phẩm, giá bán lẻ ít biến động do lượng giao dịch chưa có sự đột biến. Gạo IR 504 thành phẩm đang có giá từ 10.750 đến 10.900 đồng/kg.
Các loại gạo khác như OM 5451 đạt 9.500 đến 9.600 đồng/kg, Đài Thơm 8 từ 9.200 đến 9.400 đồng/kg. CL 555 từ 9.000 đến 9.200 đồng/kg, OM 18 từ 8.700 đến 8.850 đồng/kg và gạo IR 504 giao dịch từ 8.400 đến 8.550 đồng/kg. Gạo OM 380 và Sóc thơm cùng ở mức 7.500 đến 7.600 đồng/kg.
Ở mảng xuất khẩu, gạo Việt Nam tiếp tục khẳng định vị thế trong phân khúc gạo thơm. Gạo Jasmine hiện có giá từ 528 đến 532 USD/tấn.
Gạo thơm 5% tấm giao dịch ở mức 505 đến 520 USD/tấn và loại 100% tấm đạt 337 đến 341 USD/tấn. Trong khi đó, gạo trắng 5% tấm của Thái Lan đang có giá 440 đến 444 USD/tấn và Ấn Độ là 342 đến 346 USD/tấn.
Thị trường nông sản ghi nhận giá sầu riêng bình ổn
Cập nhật từ giasaurieng.net cho thấy, tại các khu vực trồng trọng điểm, giá thu mua sầu riêng đang được duy trì ở mức tương đối ổn định sau giai đoạn giảm sâu.
Sầu riêng Thái loại A dao động từ 70.000 đến 78.000 đồng/kg, trong khi giống Ri6 giữ quanh mức 40.000 đến 45.000 đồng/kg.
Sầu riêng Black Thorn loại A có giá cao nhất đạt 112.000 đồng/kg nhưng nguồn cung trên thị trường rất hạn chế.
Về chi tiết các vùng, tại ĐBSCL, sầu riêng Thái loại A đạt 72.000 đến 74.000 đồng/kg, loại B từ 52.000 đến 54.000 đồng/kg, riêng sầu Thái VIP lên tới 70.000 đến 72.000 đồng/kg.
Sầu Ri6 loại A tại đây dao động 40.000 đến 42.000 đồng/kg, loại B từ 25.000 đến 27.000 đồng/kg. Sầu Musang King loại A và B lần lượt có giá 80.000 đồng/kg và 60.000 đồng/kg. Sầu Black Thorn loại A đạt 112.000 đồng/kg.
Khu vực miền Đông Nam Bộ ghi nhận mức giá cao hơn ĐBSCL từ 3.000 đến 8.000 đồng/kg đối với sầu Thái loại A. Cụ thể, tại Đồng Nai, sầu Thái loại A có giá từ 74.000 đến 78.000 đồng/kg, loại B từ 54.000 đến 58.000 đồng/kg.
Sầu Ri6 loại A thu mua quanh mức 41.000 đến 45.000 đồng/kg, loại B từ 25.000 đến 30.000 đồng/kg.
Tại Tây Ninh, mức giá có phần thấp hơn nhẹ, với sầu Thái loại A từ 71.000 đến 74.000 đồng/kg và Ri6 loại A đạt 41.000 đồng/kg.
Thị trường heo hơi chưa có tín hiệu phục hồi
Thị trường heo hơi cả nước tiếp tục xu hướng giảm nhẹ, giao dịch phổ biến từ 66.000 đến 68.000 đồng/kg, thấp hơn đáng kể so với giữa tháng 5.
Hiện tại, không còn địa phương nào duy trì được mốc 69.000 đồng/kg.
Miền Bắc vẫn là khu vực có mặt bằng giá cao nhất, nhưng khoảng cách giữa các tỉnh thành gần như đã bị thu hẹp. Các tỉnh đồng loạt giao dịch ở mức từ 67.000 đến 68.000 đồng/kg. So với tuần trước, nhiều tỉnh phía Bắc đã giảm từ 1.000 đến 2.000 đồng/kg.
Miền Trung và Tây Nguyên ghi nhận mức giá thấp nhất nước, phản ánh nguồn cung dồi dào trong khi sức mua yếu. Thừa Thiên Huế giảm xuống 66.000 đồng/kg, trở thành địa phương có giá heo thấp nhất cả nước.
Các tỉnh Hà Tĩnh, Quảng Trị, Đà Nẵng, Quảng Ngãi, Gia Lai, Đắk Lắk và Khánh Hoà giao dịch ở mức 67.000 đồng/kg. Thanh Hoá, Nghệ An và Lâm Đồng neo ở mức 68.000 đồng/kg.
Khu vực phía Nam có phần ổn định hơn sau nhịp giảm cuối tháng 5 nhưng vẫn chưa xuất hiện tín hiệu phục hồi. Đồng Nai, TP.HCM, Tây Ninh và Vĩnh Long giữ mức 68.000 đồng/kg.
Các địa phương như Đồng Tháp, An Giang, Cà Mau và Cần Thơ tiếp tục thu mua heo hơi với giá 67.000 đồng/kg.
Giá cao su trong nước vẫn duy trì sự ổn định
Giá thu mua mủ trong nước sáng 1/6 vẫn duy trì ổn định.
Tại Công ty Cao su Bà Rịa, mủ nước có giá 420 đồng cho mỗi độ TSC đối với loại 25 đến dưới 30 độ. Mủ đông được mua với giá 14.600 đồng/kg, mủ nguyên liệu 18.100 đồng/kg.
Tại Công ty Phú Riềng, mủ tạp niêm yết ở mức 390 đồng cho mỗi độ DRC, mủ nước 420 đồng cho mỗi độ TSC.
Công ty MangYang và Bình Long cũng áp dụng các mức giá thu mua mủ nước dao động từ 458 đến 505 đồng cho mỗi độ TSC tùy khu vực và chất lượng.
Tại thị trường thế giới, hợp đồng cao su RSS3 giao tháng 7 trên sàn Tocom Nhật Bản tăng lên 409 Yên/kg, trong khi kỳ hạn tháng 6 giữ mức 400 Yên/kg.
Tương tự, trên sàn Thượng Hải, hợp đồng tháng 6 tăng lên 17.660 Nhân dân tệ/tấn, hợp đồng tháng 7 đạt 17.755 Nhân dân tệ/tấn. Tại Thái Lan, cao su RSS3 giao tháng 6 duy trì mức 89,9 Baht/kg.
Ngoài ra, theo Cục Hải quan, giá xuất khẩu cao su Việt Nam bình quân trong tháng gần nhất đạt 1.998 USD/tấn, tăng 3,4% so với tháng trước đó và xác lập mức đỉnh kể từ năm 2017 đến nay.


