Góc nhìn nông thôn việt
Thịt heo nhập khẩu chỉ hơn 40.000 đồng/kg và giá nào phía sau?
Thịt heo nhập khẩu vào Việt Nam có mức giá bình quân chỉ khoảng 43.000-45.000 đồng/kg, rẻ hơn cả giá thành để người nuôi heo trong nước tạo ra 1kg heo hơi. Sự chênh lệch quá lớn để có thể coi là cuộc cạnh tranh.

Giá thịt heo nhập khẩu rẻ như rau
Theo số liệu từ Cục Hải quan, trong 8 tháng đầu năm, Việt Nam nhập khẩu 658.700 tấn thịt và các sản phẩm từ thịt, trị giá 1,91 tỉ USD, tăng 5,6% về lượng và tăng 26,3% về trị giá so với cùng kỳ năm 2025.
Đáng chú ý, trong lúc người nuôi heo trong nước chật vật vì chi phí đầu vào (thức ăn chăn nuôi, con giống, thú y…) tăng cao, mà giá bán heo thịt không tăng, nhiều hộ liên tục trong cảnh hòa vốn, hoặc thua lỗ thì lượng thịt heo nhập khẩu khiến ngành chăn nuôi trong nước không khỏi lo lắng.
Đã có 124.100 tấn thịt heo tươi, ướp lạnh hoặc đông lạnh nhập về trong 8 tháng, trị giá 212,64 triệu USD, tăng 18,8% về lượng nhưng giảm 23,8% về trị giá so với cùng kỳ năm 2025.
Giá nhập khẩu bình quân thịt heo chỉ 1.712 USD/tấn, tương đương 1,712 USD/kg (khoảng 45.368 đồng/kg), giảm 35,9% so với cùng kỳ năm trước. Mức giá này chỉ ngang bằng giá 1kg một số loại rau tươi trong nước.
Brazil là nhà cung cấp thịt heo lớn nhất cho Việt Nam. Các sản phẩm thịt được thị trường trong nước ưa chuộng như ba rọi (ba chỉ), sườn… thì giá hàng nhập khẩu được các đầu mối chào bán rẻ hơn từ 30.000 – 60.000 đồng/kg so với hàng tươi trong nước.
Cơ chế thị trường, người tiêu dùng có thêm một lựa chọn giá rẻ. Thịt rẻ không nhất thiết đồng nghĩa với thịt kém chất lượng. Vấn đề nằm ở chỗ: vì sao nó rẻ và nó được đưa đến tay người tiêu dùng theo cách nào?
Brazil là một trong những cường quốc chăn nuôi và xuất khẩu thịt lớn của thế giới. Với lợi thế về quỹ đất, nguồn nguyên liệu thức ăn chăn nuôi, quy mô trang trại, công nghiệp giết mổ và chế biến lớn, chi phí sản xuất của họ có thể thấp hơn nhiều quốc gia.
Sản xuất ở quy mô rất lớn tạo ra lợi thế kinh tế mà các hộ chăn nuôi nhỏ lẻ chiếm số đông ở Việt Nam khó có được. Một nhà máy giết mổ công nghiệp xử lý hàng nghìn, thậm chí hàng chục nghìn con vật mỗi ngày sẽ có chi phí trên mỗi kg sản phẩm khác hoàn toàn một cơ sở nhỏ.
Thịt sau giết mổ được cấp đông, vận chuyển bằng đường biển với số lượng lớn. Khi đi theo chuỗi logistics lạnh tương đối hoàn chỉnh, chi phí vận chuyển trên mỗi kg cũng giảm đáng kể.
Vì vậy, không thể cứ thấy thịt nhập khẩu giá 43.000 hay 45.000 đồng một kg là lập tức kết luận đó là thịt kém chất lượng. Giá thấp có thể xuất phát từ lợi thế sản xuất, tỷ giá, quy mô xuất khẩu, cơ cấu sản phẩm hoặc chính sách thương mại.
Tuy nhiên, cái cách thịt nhập bán tại thị trong nước không khỏi đặt ra những nghi ngờ về thời điểm sản xuất, thời hạn sử dụng, điều kiện bảo quản và cách thức lưu thông...
Thị đông lạnh không phải là thịt tươi. Nhưng từ siêu thị, cửa hàng tiện lợi đến các chợ lớn nhỏ, sản phẩm này được rã đông bán như thịt tươi, thịt mát. Tại hệ thống Bách Hóa Xanh thịt heo nhập khẩu đóng trong khay, chỉ có thông tin cơ bản trên tem nhãn là tên sản phẩm, nhập từ Brazil, ngày đóng gói, hạn sử dụng. Người mua rất khó biết được thông tin nhà sản xuất, đóng gói, cấp đông khi nào, có khuyến cáo gì với người dùng không?. Những thông tin này thường có trên vỏ thùng đựng thịt, thường là loại thùng carton khoảng 18kg, đã được các điểm bán gỡ bỏ, rã đông để bán lẻ.
Quanh các chợ đầu mối của TP.HCM như Thủ Đức, Hóc Môn, Bình Điền, không thiếu những điểm bán thịt đông lạnh nhập khẩu, thịt được rã đông, chất đống bán lộ thiên bất kể nắng mưa. Nhiều lô thịt màu đã nhợt nhạt, nước chảy tong tong, nhưng vẫn không thiếu người mua. Cũng không loại trừ việc người bán không tiêu thụ hết trong ngày và tiếp tục tái cấp đông, đi liền với đó là nguy cơ phát triển của vi sinh vật và suy giảm chất lượng.
Người tiêu dùng bình thường gần như không thể nhận biết bằng mắt thường một miếng thịt đã trải qua bao nhiêu lần rã đông, được bảo quản ở nhiệt độ nào và trong bao lâu. Đó chính là khoảng trống thông tin nguy hiểm nhất.
Ai đang ăn thịt nhập giá rẻ?
Thịt đông lạnh nhập khẩu giá thấp không chỉ xuất hiện trong các kênh bán lẻ. Một lượng đáng kể được sử dụng tại các bếp ăn công nghiệp, quán cơm bình dân, cơ sở chế biến suất ăn và những nơi phải phục vụ số lượng lớn với chi phí thấp.
Đây là điều dễ hiểu về mặt kinh tế. Một bếp ăn phải cung cấp hàng nghìn suất ăn mỗi ngày sẽ đặc biệt nhạy cảm với giá nguyên liệu. Chỉ cần giá thịt giảm vài nghìn đồng mỗi kg, tổng chi phí của cả tháng có thể giảm đáng kể.
Nhưng chính nhóm người tiêu dùng này lại thường ít có khả năng lựa chọn. Một người mua thịt tại siêu thị có thể đọc nhãn, xem nguồn gốc, ngày sản xuất, hạn sử dụng. Một gia đình có thể lựa chọn loại thịt đắt hơn nếu quan tâm đến chất lượng.
Còn một công nhân ăn suất cơm tại nhà máy, một người lao động mua cơm bình dân hay một học sinh sử dụng suất ăn tập thể thì không biết miếng thịt mình đang ăn được sản xuất ở đâu, cấp đông từ bao giờ và đã được rã đông bao nhiêu lần.
Vì thế, câu chuyện thịt nhập khẩu giá rẻ không chỉ là câu chuyện cạnh tranh giữa thịt nội và thịt ngoại. Nó còn là câu chuyện bảo vệ những người tiêu dùng ít có khả năng tự bảo vệ mình.
Không nên bảo vệ thịt nội bằng cách cấm thịt ngoại. Thịt nhập khẩu nếu đáp ứng đầy đủ các quy định về kiểm dịch, an toàn thực phẩm và thương mại thì vẫn cần được cạnh tranh bình đẳng. Điều cần làm là quản lý thật chặt cách thức nó đi vào thị trường.
Một sản phẩm đông lạnh phải được nhận diện đúng là sản phẩm đông lạnh. Nếu đã rã đông, phải có quy định và cách thức ghi nhãn, bảo quản, lưu thông phù hợp. Không thể để người bán biến thịt đông lạnh thành “thịt tươi” chỉ bằng cách rã đông và bày lên quầy.
Cơ quan quản lý cũng cần kiểm tra sâu hơn thay vì chỉ kiểm tra hồ sơ nhập khẩu. Cần truy xuất cả chuỗi từ cảng nhập, kho lạnh, đơn vị phân phối đến chợ đầu mối, siêu thị, cửa hàng, bếp ăn công nghiệp và cơ sở chế biến.
Nếu phát hiện thịt hết hạn, bảo quản sai nhiệt độ, rã đông rồi tái cấp đông hoặc thay đổi nhãn mác để đánh lừa người tiêu dùng, phải xử lý nghiêm. Giá rẻ chỉ thực sự tốt khi người mua biết mình đang mua gì. Thịt nhập khẩu giá rẻ không đáng sợ nếu đó là sản phẩm hợp pháp, đạt tiêu chuẩn, được bảo quản đúng quy trình và người tiêu dùng biết rõ nguồn gốc.
Điều đáng sợ là một sản phẩm đông lạnh được bán như thịt tươi; một miếng thịt có nguồn gốc rõ ràng khi nhập khẩu nhưng trở nên mập mờ sau nhiều khâu trung gian; hay một sản phẩm gần hết hạn được đưa vào những kênh tiêu thụ mà người mua gần như không có khả năng kiểm chứng.
Khi ấy, cái gọi là “thịt giá rẻ” có thể không còn là lợi ích đơn thuần của thị trường. Người tiêu dùng được hưởng lợi từ cạnh tranh về giá, nhưng không thể đánh đổi an toàn thực phẩm lấy vài nghìn đồng mỗi kg.

