Xuất nhập khẩu

Xuất nhập khẩu

Hàng Việt sẽ phải trả phí phát thải tại EU

MAI CA • 03/10/2026 07:17

Nếu không chuẩn hóa dữ liệu và giảm phát thải, hàng Việt sẽ chịu thêm sức ép về chi phí và khả năng cạnh tranh khi xuất khẩu vào EU.

Phát thải carbon sẽ tính vào giá bán của hàng Việt

Theo công bố của Ủy ban châu Âu (EC), từ tháng 2/2027, các nhà nhập khẩu được ủy quyền tại Liên minh châu Âu (EU) sẽ bắt đầu mua chứng chỉ Cơ chế điều chỉnh biên giới carbon (CBAM) để thực hiện nghĩa vụ đối với lượng hàng hóa đã nhập trong năm 2026.

Đối với hàng nhập khẩu trong năm 2026, giá chứng chỉ CBAM được EC tính toán và công bố theo quý. Cụ thể, quý I/2026 ở mức 75,36 euro/chứng chỉ, quý II là 75,28 euro/chứng chỉ, tương đương khoảng 2,2 triệu đồng. Điều này đồng nghĩa lượng phát thải carbon trong hàng hóa nhập vào EU năm nay đã bắt đầu gắn với một mức giá cụ thể.

Chia sẻ tại hội thảo “Tiêu chuẩn ESG và các giải pháp thực thi Net Zero tại nhà máy” diễn ra chiều 2/10, các chuyên gia cho biết doanh nghiệp Việt Nam không phải bên trực tiếp mua chứng chỉ CBAM. Tuy nhiên, nhà nhập khẩu EU phải khai báo lượng phát thải trong hàng hóa và nộp số lượng chứng chỉ tương ứng.

Vì vậy, sản phẩm có mức phát thải càng cao thì nghĩa vụ carbon mà nhà nhập khẩu phải thực hiện càng lớn. Chi phí này có thể tác động trực tiếp đến giá và sức cạnh tranh của hàng hóa khi vào thị trường EU.

Ông Phùng Ngọc Bảo Anh, Cố vấn cấp cao Phát triển bền vững SGS Việt Nam, cho biết CBAM hiện áp dụng với 6 nhóm ngành gồm sắt thép, xi măng, nhôm, phân bón, hydrogen và điện.

Theo ông, yêu cầu đặt ra hiện nay không chỉ là thực hiện báo cáo phát thải, mà còn phải xác định chính xác mức phát thải của từng sản phẩm và bảo đảm dữ liệu đủ độ tin cậy để được công nhận.

Hàng Việt phát thải cao sẽ khó cạnh tranh khi vào EU
Hàng Việt phát thải cao sẽ khó cạnh tranh khi vào EU

Không có dữ liệu khó biết sản phẩm đang “gánh” bao nhiêu carbon

Khi carbon bắt đầu được tính thành chi phí, doanh nghiệp muốn chứng minh sản phẩm có mức phát thải thấp thì trước hết phải có dữ liệu đủ tin cậy.

Ông Nguyễn Công Minh Bảo, Đồng sáng lập và Đối tác điều hành Green Transition, Giám đốc Quốc gia GRI Việt Nam, cho biết doanh nghiệp cần chuẩn hóa và số hóa dữ liệu ngay trong quá trình sản xuất. Việc thu thập dữ liệu cũng cần từng bước tự động hóa, thay vì phụ thuộc vào ghi chép và nhập liệu thủ công.

“Khi có dữ liệu nền, doanh nghiệp mới có thể thiết lập đường cơ sở, xây dựng hồ sơ phát thải, kiểm kê khí nhà kính, phục vụ báo cáo, thẩm tra và chứng nhận ESG. Dữ liệu này sau đó còn được sử dụng để minh bạch phát thải trong chuỗi giá trị, xác định dấu chân carbon của sản phẩm và đáp ứng các yêu cầu của chuỗi cung ứng”, ông Bảo chia sẻ.

Đặc biệt, theo ông Bảo, trong bối cảnh yêu cầu của thị trường ngày càng đi sâu đến từng sản phẩm, doanh nghiệp còn phải tính đến đánh giá vòng đời sản phẩm (LCA), công bố môi trường sản phẩm (EPD) và các quy tắc phân loại sản phẩm tương ứng.

Điều này đồng nghĩa dữ liệu ESG không thể chỉ dừng ở cấp doanh nghiệp mà ngày càng phải đi sâu xuống nhà máy, quá trình sản xuất, nguyên liệu và từng sản phẩm cụ thể.

Ngoài ra, dữ liệu cần được đưa ngược trở lại hoạt động sản xuất. Nếu xác định được phát thải tập trung ở nguyên liệu, điện năng, nhiên liệu hay một công đoạn cụ thể, doanh nghiệp có thể ưu tiên cải tiến đúng điểm đó thay vì đầu tư dàn trải.

Chuyển đổi xanh phải gắn với hiệu quả sản xuất

Ông Đinh Hồng Kỳ, Chủ tịch Hiệp hội Doanh nghiệp Xanh TP.HCM, cho rằng chuyển đổi xanh không nên chỉ được nhìn dưới góc độ chi phí, mà cần đặt trong bài toán hiệu quả sản xuất và khả năng hoàn vốn.

Theo ông, những yêu cầu như giảm phát thải, truy xuất nguồn gốc hay tối ưu tài nguyên chỉ thực sự có ý nghĩa khi doanh nghiệp lượng hóa được mức tiết kiệm nguyên liệu, nước, năng lượng và chi phí vận hành sau khi thay đổi công nghệ.

Với doanh nghiệp nhỏ và vừa, ông Kỳ cho rằng lợi thế nằm ở sự linh hoạt. Doanh nghiệp không nhất thiết phải đi theo cùng một lộ trình, sử dụng cùng loại công nghệ hay áp dụng mô hình giống các doanh nghiệp lớn.

Mỗi doanh nghiệp có thể xây dựng lộ trình chuyển đổi xanh riêng, phù hợp với quy mô, năng lực và đặc thù sản xuất, miễn là vừa đáp ứng yêu cầu thị trường, vừa bảo đảm hiệu quả vận hành.

MAI CA