Nông sản
"Vua” rau gia vị xứ Nẫu, mọc hoang mà hái ra tiền
Loài hoa dại từng mọc hoang dại khắp các bờ rào, lùm cây, đất sạn cốm ở trên núi, nay đã trở thành một loại mặt hàng đặc sản theo mùa rất được săn đón và mang lại thu nhập cho người dân xứ Nẫu (Phú Yên cũ), phía Đông tỉnh Đắk Lắk.

Bông giờ - đặc sản mọc ở bờ bụi
Bông giờ mọc tự nhiên. Từ tháng 7 đến tháng 10 Âm lịch, khi có cơn mưa làm mềm đất, cây lại đội đất nhú lên nở bông. Điểm lạ của loại cây này là từ đất mọc lên đã ra bông mà không thấy lá, nhìn giống như mặt đất trổ bông.
Chị Nguyễn Thị Duyên, giáo viên ở xã Xuân Phước, (tỉnh Đắk Lắk) cho hay: Mùa bông giờ ở xứ Nẫu Phú Yên từ chợ quê trên núi thôn Phú Hội (xã Xuân Phước) xuống chợ ruộng Tân Hòa thuộc xã Đồng Xuân, hay chợ thôn 6 kề bên bờ biển thuộc xã Tuy An Đông đều có bán.

Đi chợ quê, ngang qua hàng rau, người bán có lời mời: ăn giùm năm ngàn bông giờ. Lời mời nghe thương, cộng với loài bông bắt mắt nên mua liền. Còn chợ dưới biển, giá bán 5.000 đồng/2 lạng lựa (nghĩa là lựa từng cái), 4.000 đồng/2 lạng hốt (hốt trong nắm tay đem cân sa cạ).
Má tôi năm nay 86 tuổi, đến mùa này, hễ con cái bận thì má lại gửi hàng xóm đi chợ mua nắm bông về nấu canh.
Nấu nồi nước sôi, cho cá vào, chờ sôi lên lần nữa rồi thả các loại rau vào, nêm nếm vừa ăn, thả bông giờ vào nồi để sôi “ba dội” rồi tắt bếp. Món canh ngon chất ngất.
Bông này có mùi hương rất đặc biệt, “trộn lại” giữa nhiều loại mùi thơm: một chút mùi nghệ, một nửa mùi gừng, hăng hăng mùi sả. Bông nấu canh tập tàng, bầu, bí, mướp, mùng tơi, rau dền cơm, lá bát, bồ ngót.

Mùa kiếm thêm từ “lộc trời” cho
Hết mùa, bông giờ bắt đầu trụi lá chết, còn củ thì nằm im dưới đất. Rồi đến năm sau, gặp những cơn mưa là bông “rủ” nhau mọc lên như “lộc trời” cho.
Chị Trần Thị Duyên, ở xã Vân Hòa (tỉnh Đắk Lắk) trở về sau một buổi sáng chui bờ bụi trên núi tìm nhổ những rổ bông tím ngắt, tươi rói. Tất cả đều được các tiểu thương đến tận nhà mua, chở vào các chợ phường. Vì mỗi năm hoa chỉ xuất hiện một lần vào mùa mưa và hoàn toàn mọc tự nhiên, chưa trồng công nghiệp nên bông luôn đắt hàng.
Chị Duyên cho hay: sáng tôi rảo quanh bờ rào ra lùm cây gò đồi nhổ bông mang về. Tôi để lại một ít cho cả nhà ăn, còn lại bán cho mấy người “chợ chạy” chở trên xe gắn máy với giá từ 15.000 đến 20.000 đồng/kg, tùy bông lớn nhỏ.
Mỗi sáng nhổ 5 đến 10kg, mỗi mùa bông có người làm siêng kiếm từ 500.000 đến 600.000 ngàn đồng, số tiền không nhiều nhưng lại giá trị với người miền núi, vì tháng mùa mưa không làm gì ra tiền.

Từ một món ăn dân dã “cứu đói” của vùng quê nghèo, bông giờ nay đã bước vào các nhà hàng, quán ăn và trở thành thức quà quê quý giá, gợi nhắc nỗi nhớ quê hương của những người con xa xứ. Chị Phan Thị Nhung, ở phường Tuy Hòa chia sẻ: Mỗi ngày trên đoạn đường từ Cao nguyên Vân Hòa, tôi chở ít nhất gần nửa tạ bông đi bỏ mối các chợ ven biển xã Tuy An Đông, Tuy An Tây đến các chợ phường Tuy Hòa. Vì vậy mùa này không có chợ nào mà “thiếu” bông giờ. Có người quê Phú Yên cũ, giờ sinh sống ở các tỉnh Lâm Đồng, Khánh Hòa còn lên “chợ mạng” dặn mua một ít.
“Mùa này đang mưa, các nhà hàng săn đón bông giờ để nêm vào các món kho cá đồng (cá rô bí, cá trầu, cá trắng), nấu canh chua, canh rau tập tàng hay làm món nướng nên bán chạy. Mỗi mùa, tôi mua đi bán lại 1 tấn giờ với số tiền vài chục triệu đồng. Nhiều người ở Tuy Hòa lên xã Vân Hòa rồi qua xã Tuy An Tây mua đi bán lại. Bông giờ mang lại một nguồn thu nhập thêm cho người nông dân trong những ngày nông nhàn”, chị Nhung nói.
Hàng hiếm nhưng thị trường còn nhỏ
Đây là “hàng hiếm” thượng hạng của xứ Nẫu (Phú Yên) vì chỉ mọc tự nhiên trong bờ bụi, trên núi. Mỗi bông hoa sau khi nhú lên chỉ tồn tại được khoảng 2 ngày là tàn nên gọi là hàng hiếm.

Chị Nguyễn Minh Anh, ở tỉnh Khánh Hòa chia sẻ: Đến mùa, mẹ từ quê mang vào cho con gái ở Khánh Hòa ít bông bỏ trong cái giỏ đi chợ, không mang nhiều vì dập nát. Tôi ở Khánh Hòa giáp ranh Phú Yên (cũ) còn em tôi ở xa tận Lâm Đồng thì đành nhịn thèm…
Trong tâm thức của người dân địa phương, bông giờ được ví như “vua” của các loại rau gia vị dùng cho các món cá đồng và canh miền quê.
Bông trổ 3 màu, phía dưới chân màu trắng, phần trên màu tím đậm, "ẵm" theo bên hông là nhụy màu vàng. Cũng giống như bông nhụy có cánh nhỏ, giữa nhụy đâm lên một cây to bằng chân nhang…
Ông Mạnh Minh Tâm, nguyên cán bộ Sở Văn hóa, Thể thao & Du lịch Phú Yên cũ cho hay: Quê tôi ở xã miền núi Đồng Xuân, bông này mọc gần hàng bồ ngót, quanh bụi duối, chui vô bờ rào. Mùa này phải tranh thủ đội mưa, nhanh tay hái để tránh cát nhảy vào bông. Trong các loại rau nêm canh thì không có rau nào thơm bằng bông giờ. Nồi canh nóng mà thơm bông giờ, ăn vào mát lạnh cả người. Không chỉ nấu canh ngọt mà nấu nồi canh chua nêm bông giờ thì cũng “thơm trong nồi thơm ra”.
Theo ông Tâm, do chưa được quy hoạch trồng công nghiệp quy mô lớn mà chủ yếu là hái tự nhiên, nguồn cung hoàn toàn bị động. Để mở rộng thị trường, loại đặc sản này cần những giải pháp công nghệ sâu hơn về bảo quản sau thu hoạch (như sấy lạnh, chiết xuất tinh dầu) hoặc phát triển các chuỗi cung ứng hàng không đưa trực tiếp đến các nhà hàng đặc sản cao cấp.

Cây bông giờ có tên khoa học là Curcuma cochinchinensis Gagnep. (thuộc chi Nghệ, họ Gừng - Zingiberaceae), trong các tài liệu thực vật học còn được gọi là Nghệ Nam bộ hoặc Nghệ gầy. Các đặc tính sinh học và giá trị sử dụng của loài cây này đã được nhiều cơ quan chuyên môn và các nhà khoa học nghiên cứu.
Đây là loài thực vật bản địa của Việt Nam, phân bố nhiều ở khu vực miền Trung, đặc biệt là vùng đất Phú Yên. Tên gọi “bông giờ” vốn được đọc trại từ chữ "bông giề/dề" do hoa khi mọc thường trổ thành từng vạt, từng giề lớn.
Các nhà khoa học tại Trường Đại học Phú Yên phối hợp cùng các đơn vị như Đại học Đà Lạt, Đại học Khoa học Tự nhiên (ĐHQG Hà Nội) đã thực hiện nhiều đề tài phân tích thành phần hóa học của cây bông và rút ra kết luận: Bông giờ chứa hàm lượng tinh dầu cao. Trong lá, hoa và thân rễ chứa các hợp chất quý như curdione, 1,8-cineole, beta-pinene, germacrone và các sesquiterpene. Tinh dầu chiết xuất từ bông này có hoạt tính kháng khuẩn mạnh đối với nhiều chủng vi khuẩn và có khả năng ức chế nấm. Loài cây này hiện đang được phát triển để ứng dụng vào ngành thực phẩm và mỹ phẩm sạch sinh học….