Thị trường nông nghiệp
Thị trường nông sản 26/9: Cà phê và cao su cùng tăng trên sàn quốc tế
Sáng 26/9, thị trường nông sản ghi nhận giá cà phê nội địa quay đầu giảm nhẹ, cao su quốc tế lại chứng kiến sức nóng kỷ lục khi giá tại Nhật Bản vươn lên mức cao nhất trong vòng 15 năm qua.
Cà phê nội địa giảm nhẹ, thế giới phục hồi nhờ lực mua bù
Sáng 26/9, thị trường nông sản chứng kiến giá cà phê khu vực Tây Nguyên có nhịp điều chỉnh giảm từ 200 đến 300 đồng/kg so với cùng thời điểm sáng hôm trước. Đưa mặt bằng giá thu mua về khoảng 92.000 đến 92.700 đồng/kg.
Cụ thể, theo giacaphe.com, khu vực Đắk Nông (nay thuộc Lâm Đồng) tiếp tục là địa phương có mức giá cao nhất vùng khi giao dịch ở 92.700 đồng/kg sau khi giảm 300 đồng/kg.
Đắk Lắk và Gia Lai cùng ghi nhận mức giảm tương tự, lùi về mốc 92.500 đồng/kg.
Trong khi đó, giá cà phê tại khu vực Lâm Đồng cũ giảm 200 đồng/kg, xuống còn 92.000 đồng/kg.
Trái ngược với đà giảm trong nước, sáng nay, các sàn giao dịch quốc tế lại phủ sắc xanh.
Cụ thể, giá cà phê robusta trên sàn London hợp đồng giao tháng 11/2026 tăng 77 USD/tấn lên mức 3.367 USD/tấn. Kỳ hạn tháng 1/2027 tăng 70 USD/tấn lên mức 3.342 USD/tấn và kỳ hạn tháng 3/2027 tăng 61 USD/tấn lên mức 3.321 USD/tấn.
Cùng chiều đi lên, tại sàn New York, giá arabica giao tháng 12/2026 cộng thêm 3.25 cent/lb, vươn lên 278.60 cent/lb. Các hợp đồng kỳ hạn tháng 3/2027 và tháng 5/2027 cũng lần lượt tăng lên mức 271.25 cent/lb và 268.90 cent/lb.
Theo phân tích từ BarChart, đà suy yếu của chỉ số đồng USD trong ngày thứ Sáu đã thúc đẩy các quỹ đầu tư thực hiện hoạt động mua bù thiếu trên thị trường kỳ hạn. Qua đó đẩy giá đi lên, giúp arabica chạm mức đỉnh của một tuần.
Dù có nhịp phục hồi ngắn hạn, áp lực dài hạn đối với giá cà phê vẫn rất lớn.
Tổ chức Cà phê Quốc tế dự báo sản lượng toàn cầu niên vụ 2025/2026 sẽ tăng 4,4 phần trăm so với cùng kỳ năm ngoái, đạt kỷ lục 183,6 triệu bao. Trong khi đó lượng tiêu thụ giảm 0,9 phần trăm xuống còn 180,6 triệu bao.
Điều này đẩy thị trường vào trạng thái dư thừa 3 triệu bao, đánh dấu đợt dư cung đầu tiên sau 5 năm.
Thêm vào đó, cơ quan dự báo mùa vụ của Brazil cũng vừa nâng ước tính sản lượng năm 2026 của nước này lên 67,6 triệu bao. Với sản lượng arabica dự kiến tăng mạnh 34,8 phần trăm.

Thị trường nông sản cho thấy hồ tiêu duy trì vùng giá ổn định
Thị trường hồ tiêu trong nước tiếp tục chuỗi ngày đi ngang khi không ghi nhận xáo trộn mới, dao động quanh mốc 136.000 đến 140.000 đồng/kg.
Cập nhật từ giatieu.com cho thấy, khu vực Đắk Nông (nay thuộc Lâm Đồng) tiếp tục dẫn đầu toàn miền với mức thu mua 140.000 đồng/kg. Theo sau là Đắk Lắk với 138.000 đồng/kg.
Còn tại khu vực Bà Rịa - Vũng Tàu (nay thuộc TP.HCM) chốt ở mức 136.500 đồng/kg. Gia Lai và Đồng Nai cùng duy trì mức giao dịch 136.000 đồng/kg.
Trên thị trường quốc tế, dữ liệu từ Cộng đồng Hồ tiêu Quốc tế cho thấy giá tiêu xuất khẩu của các nước phần lớn giữ nguyên trạng thái.
Cụ thể, tiêu đen Lampung của Indonesia hiện đạt 6.828 USD/tấn, tiêu trắng Muntok ở mức 9.348 USD/tấn.
Malaysia duy trì vị thế giá cao với tiêu đen ASTA ở mức 9.250 USD/tấn và tiêu trắng 12.150 USD/tấn.
Tại thị trường Brazil, giá thu mua hồ tiêu đen ASTA 570 neo ở mức 5.850 USD/tấn.
Đối với thị trường Việt Nam, giá hồ tiêu đen loại 500 g/l giao dịch ở mức 5.970 USD/tấn và loại 550 g/l ở mức 6.075 USD/tấn. Tiêu trắng được chào bán với giá 8.450 USD/tấn.
Lúa tươi sụt giảm, gạo xuất khẩu chịu áp lực cạnh tranh
Khảo sát từ một số nguồn và luagaoviet.com, cho thấy bức tranh thị trường lúa gạo nội địa sáng 26/9 khá trầm lắng do nhu cầu thu mua yếu, kéo giá lúa tại một số địa phương giảm nhẹ.
Đặc biệt, giá lúa tươi biến động trái chiều nhưng xu hướng giảm chiếm ưu thế.
Cụ thể, lúa OM 5451 giảm 150 đồng/kg xuống 5.850 đến 5.950 đồng/kg, lúa IR 50404 lùi về 5.800 đến 6.000 đồng/kg và lúa OM 34 giảm 50 đồng/kg còn 5.700 đến 5.850 đồng/kg.
Riêng lúa OM 18 nhích nhẹ 100 đồng/kg lên 6.000 đến 6.100 đồng/kg, còn Đài Thơm 8 dao động 6.100 đến 6.200 đồng/kg.
Tại khu vực ĐBSCL, giá gạo nguyên liệu duy trì ổn định. Gạo IR 504 hiện ở mức 8.650 đến 8.750 đồng/kg, gạo CL 555 dao động trong khoảng 8.700 đến 8.800 đồng/kg.
Gạo OM 5451 đạt mức 9.550 đến 9.650 đồng/kg, OM 18 quanh mức 8.700 đến 8.850 đồng/kg và Đài Thơm 8 ở mức 9.150 đến 9.450 đồng/kg...
Trên bình diện xuất khẩu, sức ép đối với gạo Việt Nam ngày càng hiện rõ.
Gạo trắng 5 phần trăm tấm của Việt Nam đã lùi về mốc 430 USD/tấn so với mức 440 đến 445 USD/tấn của tuần trước.
Cùng lúc, gạo Thái Lan cũng giảm xuống 460 USD/tấn, trong khi nguồn cung gạo đồ từ Ấn Độ vẫn duy trì ở vùng giá 375 đến 381 USD/tấn khiến người mua ngần ngại ký kết hợp đồng mới.
Sự suy giảm về giá cũng đi kèm với sụt giảm về khối lượng khi xuất khẩu gạo của Việt Nam tính đến giữa tháng 9 giảm hơn 7 phần trăm so với cùng kỳ.
Sầu riêng phân hóa sâu sắc, triển vọng xuất khẩu rộng mở
Khảo sát tại một số khu thu mua và giasaurieng.net cho thấy, sáng nay, thị trường sầu riêng chứng kiến sự chênh lệch giá khá thú vị giữa các chủng loại và khu vực.
Cụ thểm tại ĐBSCL, sầu riêng Ri6 loại A duy trì mức giá cao từ 50.000 đến 64.000 đồng/kg, loại B từ 35.000 đến 48.000 đồng/kg.
Giống sầu Thái tại khu vực này có giá 70.000 đến 80.000 đồng/kg cho loại A, loại B từ 50.000 đến 60.000 đồng/kg. Sầu riêng Chuồng bò loại A giao dịch từ 45.000 đến 50.000 đồng/kg.
Tiến về khu vực Đông Nam Bộ, giá sầu Thái loại A vọt lên mức 82.000 đến 100.000 đồng/kg, loại B từ 62.000 đến 75.000 đồng/kg.
Sầu riêng Ri6 tại đây được thu mua từ 35.000 đến 40.000 đồng/kg đối với hàng loại A. Đặc biệt, sầu riêng Musang King loại A giao dịch từ 65.000 đến 75.000 đồng/kg.
Tại khu vực Tây Nguyên, sầu Thái loại A cũng ở mức cao 80.000 đến 95.000 đồng/kg, sầu Ri6 loại A từ 32.000 đến 40.000 đồng/kg. Musang King loại A chốt mức 75.000 đến 80.000 đồng/kg.
Theo Cục Xuất nhập khẩu (Bộ Công Thương), triển vọng ngành hàng tỷ đô này trong những tháng cuối năm vẫn rất khả quan.
Tây Nguyên bước vào cuối vụ thu hoạch rộ trong tháng 9 và tháng 10, lợi thế độc quyền cung cấp sầu riêng tươi cho Trung Quốc sẽ giúp Việt Nam duy trì kim ngạch trên 1 tỷ USD mỗi tháng.
Cơ quan này cũng khuyến cáo, các nhà vườn và doanh nghiệp cần đặc biệt lưu ý đến việc thị trường nhập khẩu đang siết chặt kiểm tra tiêu chuẩn đóng gói và dư lượng thuốc bảo vệ thực vật.
Cao su nội địa bình ổn, Nhật Bản lập đỉnh 15 năm
Giá thu mua mủ cao su trong nước sáng 26/9 duy trì sự bình ổn tuyệt đối tại các công ty lớn.
Cụ thể, tại Công ty Bình Long thu mua mủ tại nhà máy ở mức 540 đồng/TSC/kg, trong khi mủ tạp duy trì 18.000 đồng/kg.
Công ty MangYang báo giá mủ nước dao động 458 đến 463 đồng/TSC, mủ đông tạp ở mức 404 đến 459 đồng/DRC.
Công ty Phú Riềng giữ giá mủ tạp ở mức 390 đồng/DRC và mủ nước 420 đồng/TSC.
Cao su Bà Rịa áp dụng mức 420 đồng/độ TSC/kg cho mủ nước và 18.100 đồng/kg cho mủ nguyên liệu.
Sự tĩnh lặng của thị trường nội địa hoàn toàn tương phản với sức nóng trên các sàn giao dịch quốc tế.
Tại Nhật Bản, giá cao su kỳ hạn tháng 10 trên Sàn Osaka tăng 2,27 phần trăm lên 465 Yên/kg.
Đặc biệt, hợp đồng giao tháng 2/2027 vọt lên 450,3 Yên/kg, đánh dấu mức giá cao nhất được ghi nhận kể từ tháng 4 năm 2011.
Làn sóng tăng giá này cũng lan tỏa sang các thị trường khác nhờ sự hỗ trợ từ chi phí nguyên liệu đắt đỏ. Tại Thái Lan, giá xuất khẩu cao su RSS3 tăng lên 93,86 Baht/kg.
Sàn Thượng Hải chứng kiến đà tăng 1,76 phần trăm đối với hợp đồng tháng 10, lên 18.740 Nhân dân tệ/tấn. Còn sàn Singapore ghi nhận hợp đồng TSR20 kỳ hạn tháng 10 tăng 1,68 phần trăm, chốt mốc 253,70 Cent/kg.

