Kinh tế xanh
Kinh tế tuần hoàn mở cơ hội bứt phá cho tôm Việt
Kinh tế tuần hoàn đang mở thêm dư địa giảm chi phí, tạo sản phẩm mới và nâng khả năng đáp ứng thị trường cho ngành tôm Việt Nam.
Áp lực chi phí thúc đẩy cách sản xuất thay đổi
Chia sẻ tại Diễn đàn Đối tác công tư thúc đẩy kinh tế tuần hoàn ngành tôm khu vực Đồng bằng sông Cửu Long vừa diễn ra tại Cần Thơ, ông Ngô Thế Anh, Trưởng phòng Nuôi trồng thủy sản, Cục Thủy sản và Kiểm ngư, cho biết, ngành tôm Việt Nam đang chuyển dịch từ mở rộng diện tích sang nâng năng suất, tăng vai trò của tôm thẻ chân trắng và đẩy mạnh thâm canh, siêu thâm canh, ứng dụng công nghệ cao.
Số liệu của Cục Thủy sản và Kiểm ngư cho thấy, diện tích nuôi tôm nước lợ cả nước tăng từ 747.400ha năm 2021 lên khoảng 755.400ha trong năm 2025. Trong cùng thời gian, sản lượng tăng mạnh từ 920.000 tấn lên 1,405 triệu tấn; kim ngạch xuất khẩu cũng tăng từ 3,9 tỉ USD lên khoảng 4,6 tỉ USD.
Đáng chú ý, theo ông Thế Anh, Đồng bằng sông Cửu Long hiện là vùng sản xuất chủ lực, với khoảng 704.000ha nuôi tôm nước lợ, chiếm 93,2% diện tích cả nước. Sản lượng đạt khoảng 1,225 triệu tấn, tương đương 87,2% sản lượng tôm nước lợ toàn quốc.
Đây cũng là khu vực có nhiều phương thức sản xuất, từ tôm - lúa, tôm - rừng, quảng canh cải tiến đến thâm canh, siêu thâm canh và ứng dụng công nghệ cao, đồng thời tập trung nhiều hoạt động chế biến, xuất khẩu và dịch vụ phục vụ ngành tôm.

Dù vậy, khi sản lượng tăng nhanh cũng kéo theo áp lực về chi phí đầu vào. Trong đó, thức ăn, điện, con giống và xử lý môi trường đang chiếm tỉ trọng lớn trong giá thành nuôi tôm. Đó là chưa kể, hạn, mặn và biến động nguồn nước cũng đặt ra yêu cầu nâng khả năng chống chịu của hệ thống sản xuất. Cùng với đó, truy xuất nguồn gốc, giảm phát thải và tính bền vững đang trở thành những yêu cầu ngày càng rõ từ thị trường.
“Với quy mô và cơ cấu sản xuất hiện nay, Đồng bằng sông Cửu Long có điều kiện để phát triển đồng thời hai hướng tuần hoàn. Cụ thể, với các mô hình tôm - lúa, tôm - rừng, quảng canh cải tiến và nuôi hỗn hợp, việc sản xuất dựa nhiều vào điều kiện tự nhiên, gắn với hệ sinh thái và sinh kế. Trong khi đó, nhóm thâm canh, siêu thâm canh và công nghệ cao đặt yêu cầu lớn hơn đối với hạ tầng, quản trị và kiểm soát môi trường”, ông nói.
Theo ông Thế Anh, kinh tế tuần hoàn giúp chuyển cách tiếp cận từ tập trung xử lý chất thải sang sử dụng tài nguyên hiệu quả hơn, giảm lượng chất thải phát sinh và thu hồi giá trị từ những dòng vật chất trước đây có thể bị loại bỏ.
Thực tế, theo ông Thế Anh, một số mô hình triển khai đã cho thấy khả năng giảm lượng tài nguyên sử dụng. Theo báo cáo, nhóm nuôi nhiều giai đoạn, biofloc (quá trình tự nitrat hóa trong ao nuôi thủy sản không cần thay nước), hệ thống nuôi tuần hoàn nước, tái sử dụng nước, kiểm soát bùn đáy, cảm biến và cho ăn tự động có thể đạt năng suất 15-50 tấn/ha/năm, đồng thời giảm 30-70% lượng nước thải.
Ở khâu chế biến, đầu và vỏ tôm có thể được sử dụng để sản xuất chitin, chitosan, glucosamine, protein thủy phân, thức ăn, phân bón và chế phẩm sinh học. Giá trị từ phụ phẩm được báo cáo ước có thể chiếm 10-15% tổng giá trị chuỗi tôm.
Cửa rộng cho tôm sản xuất theo kinh tế tuần hoàn
Ở góc độ thị trường, bà Phùng Thị Kim Thu, chuyên gia ngành tôm, Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu Thủy sản Việt Nam (VASEP), cho biết, năm 2025, kim ngạch xuất khẩu tôm Việt Nam đạt 4,619 tỉ USD. Trong 8 tháng đầu năm 2026, xuất khẩu tôm đạt 3,278 tỉ USD, tăng 12,1% so với cùng kỳ.
Tôm Việt Nam hiện đã có mặt tại hơn 100 thị trường, với khoảng 350 nhà máy đủ điều kiện đáp ứng các tiêu chuẩn khắt khe của nước nhập khẩu.
Tuy nhiên, áp lực cạnh tranh của ngành tôm cũng ngày càng lớn khi những đối thủ có lợi thế về chi phí bắt đầu mở rộng sang chế biến. Điển hình là Ecuador - một trong những đối thủ cạnh tranh lớn của tôm Việt Nam đã giảm tỉ trọng tôm nguyên con có đầu từ 74% năm 2019 xuống còn 44% năm 2026 để nhường chỗ cho các sản phẩm bóc vỏ và chế biến sâu.
Trong khi đó, chi phí sản xuất tôm Việt Nam được ước tính khoảng 4,25 USD/kg, cao hơn mức 2,40 USD/kg của Ecuador. Với khoảng cách này, tôm Việt Nam khó cạnh tranh bền vững nếu chỉ đi theo hướng bán giá rẻ.
“Cơ hội nằm ở việc phát huy năng lực chế biến, tạo ra sản phẩm khác biệt và chứng minh được những giá trị mà người mua sẵn sàng trả thêm”, bà Thu lưu ý và cho biết, một thay đổi đáng chú ý là yêu cầu của người mua đang chuyển từ chứng nhận đơn thuần sang bằng chứng thực tế trên toàn chuỗi.
Theo bà Thu, lợi thế cạnh tranh cốt lõi của ngành nằm ở năng lực chế biến sâu, khả năng đáp ứng các đơn hàng phức tạp và danh mục sản phẩm đa dạng. Đây là nền tảng để ngành chuyển dịch sang các dòng sản phẩm có giá trị cao hơn trong bối cảnh người tiêu dùng toàn cầu ngày càng quan tâm đến môi trường, trách nhiệm xã hội và khả năng truy xuất nguồn gốc.
Sản xuất phải gắn với nhu cầu thị trường
Để biến những yêu cầu này thành giá trị gia tăng, bà Thu cho rằng việc tổ chức chuỗi cần bắt đầu từ nhu cầu của thị trường, thay vì sản xuất xong mới tìm đầu ra.
Theo đó, nhà mua hàng cần tham gia ngay từ đầu để cùng xác định tiêu chí, thử nghiệm sản phẩm và định hướng đầu ra. Doanh nghiệp chế biến giữ vai trò dẫn dắt, tổ chức thu mua, phát triển sản phẩm và kết nối thị trường; vùng nuôi và hợp tác xã đảm nhiệm nguồn nguyên liệu, dữ liệu và lịch vụ.
Các viện, trường, đơn vị công nghệ tham gia cung cấp giải pháp, đào tạo và kiểm chứng; tổ chức tài chính hỗ trợ thông qua vốn ưu đãi, bảo lãnh hoặc các cơ chế chia sẻ rủi ro.

Tuy nhiên, để chuỗi vận hành lâu dài, bà Thu cho rằng phần giá trị tăng thêm cũng phải được chia sẻ giữa các bên. Nếu người nuôi phải bỏ thêm chi phí để tuân thủ quy trình, cung cấp dữ liệu và đáp ứng tiêu chuẩn xanh nhưng doanh nghiệp vẫn thu mua theo giá thị trường từng ngày, động lực đầu tư sẽ khó duy trì.
Do đó, lợi ích từ giá bán cao hơn, hợp đồng dài hạn hoặc nguồn thu mới từ phụ phẩm cần được tính toán ngay từ khi thiết kế chuỗi, thay vì chỉ đặt toàn bộ chi phí chuyển đổi lên người nuôi.
Từ cách tiếp cận này, bà Thu đề xuất triển khai mô hình thí điểm đối tác công tư trong 18 tháng. Trong đó 6 tháng đầu tập trung lựa chọn cụm nuôi, doanh nghiệp dẫn dắt, xây dựng bộ số liệu ban đầu và thống nhất tiêu chí đầu ra với nhà mua hàng. Từ tháng thứ 6 đến tháng thứ 18, mô hình vận hành thực tế một đến hai vụ nuôi, đồng thời thử nghiệm sản phẩm xanh và khai thác giá trị từ phụ phẩm.
Theo bà Thu, sau giai đoạn thí điểm, hiệu quả của mô hình phải được kiểm chứng bằng cả kết quả sản xuất và khả năng tạo giá trị trên thị trường. Bên cạnh các chỉ tiêu như tỉ lệ sống, hệ số chuyển đổi thức ăn, chi phí trên mỗi kilogam tôm, lượng nước và năng lượng sử dụng, cần theo dõi tỉ lệ nguyên liệu đạt chuẩn, doanh thu từ phụ phẩm, giá bán và hợp đồng đầu ra.
Những chỉ số này sẽ cho thấy việc tổ chức chuỗi theo hướng tuần hoàn có thực sự giúp giảm chi phí, tạo thêm sản phẩm và nâng giá trị thương mại hay không. Đây cũng là cơ sở để các bên xem xét khả năng nhân rộng mô hình sau thời gian thí điểm.
Thức ăn cũng là một mắt xích của nuôi tôm tuần hoàn
Ông Henry Cuong, Quản lý Kỹ thuật ngành thủy sản khu vực châu Á, Công ty ADM, cho biết, trong mô hình nuôi tôm tuần hoàn, thức ăn không chỉ quyết định tốc độ tăng trưởng của tôm mà còn ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng nước và lượng chất thải phát sinh trong ao.
Với các hệ thống sử dụng ít nước hoặc tái sử dụng nước, phần thức ăn dư thừa và dinh dưỡng thất thoát nếu không được kiểm soát sẽ tích tụ trong môi trường nuôi. Vì vậy, một trong những hướng đổi mới hiện nay là phát triển loại thức ăn có độ bền tốt hơn trong nước, hạn chế tan rã, giảm thất thoát dinh dưỡng và giúp việc thu gom chất thải thuận lợi hơn.
Theo cách tiếp cận này, đổi mới thức ăn không chỉ nhằm
giúp tôm lớn nhanh hơn mà còn góp phần giảm lượng chất thải, tiết kiệm tài nguyên và nâng hiệu quả sản xuất - những yếu tố quan trọng khi ngành tôm chuyển dần sang mô hình kinh tế tuần hoàn.

