Nam dược
Cây dược liệu tại Nghệ An: Đã xuống đồng nhưng chờ lời giải
Từ những cây thuốc quen thuộc trong đời sống, dược liệu đang được người dân Nghệ An đưa xuống đồng, hình thành vùng nguyên liệu và từng bước chế biến thành hàng hóa. Với lợi thế gần 1.000 loài dược liệu quý, tỉnh đang đứng trước cơ hội biến nguồn tài nguyên bản địa thành một ngành kinh tế xanh.

Từ trong vườn đến vùng nguyên liệu
Giữa tháng 5 hàng năm, ông Phạm Văn Hồng (58 tuổi, xã Bình Minh, Nghệ An) lại bắt tay xuống giống nhân trần thay vì gieo cấy lúa hè thu.
Những thửa ruộng trước đây thường xuyên gặp khó vì hạn hán, nay được phủ một màu xanh của loại cây vốn chỉ được trồng quanh vườn nhà. Ông cho biết, nhân trần xuất hiện ở vùng đất này khoảng 40 năm trước. Ban đầu, người dân trồng vài khóm trong vườn, đến mùa thì cắt về phơi khô, đun nước uống để giải nhiệt. Khi nhu cầu thị trường tăng lên, cây nhân trần dần được đưa ra đồng, diện tích ngày càng mở rộng.
“Cây này dễ trồng, ít phải chăm sóc, chịu hạn tốt. Trồng khoảng 3 tháng là có thể thu hoạch”, ông Hồng nói.
Nhân trần sau khi thu hoạch được phơi khô, bó thành từng bó lớn rồi bán cho thương lái hoặc các cơ sở chế biến trong xã để sản xuất trà túi lọc. Một sào có thể cho 2-2,5 tạ cây khô, giá thu mua dao động 30.000-40.000 đồng/kg tùy thời điểm. Với 4 sào cây nhân trần, mỗi năm gia đình ông Hồng thu được hơn 8 tạ nhân trần khô, mang về gần 30 triệu đồng tiền thu nhập.
Từ vài hộ trồng thử nghiệm, nhân trần đang dần hình thành vùng nguyên liệu ở Bình Minh. Ông Trần Văn Giang - Chủ tịch UBND xã Bình Minh cho biết, diện tích nhân trần hiện đã lên gần 15ha, hiệu quả kinh tế cao gấp 2-3 lần so với trồng lúa.
Ngoài cây nhân trần, người dân địa phương đang mở rộng thêm một số loại cây dược liệu có giá trị. Trong đó, xạ đen hiện được trồng trên khoảng 30ha, cho thu nhập khoảng 200 triệu đồng/ha/năm
Tía tô phủ xanh đồng

Hiệu quả kinh tế đang tạo động lực để người dân mở rộng diện tích. Tuy nhiên, theo ông Giang, địa phương không khuyến khích phát triển ồ ạt mà phải tính toán dựa trên nhu cầu thị trường. Bình Minh hiện có khoảng 4.200ha đất lâm nghiệp, và đang nghiên cứu chuyển đổi một phần diện tích phù hợp sang trồng cây dược liệu.
“Trước khi mở rộng, xã sẽ đánh giá cụ thể từng loại cây về điều kiện đất đai, hiệu quả kinh tế và khả năng tiêu thụ, từ đó xây dựng vùng trồng phù hợp, tránh tình trạng được mùa nhưng khó tìm đầu ra”, ông Giang nói.
Tại Nghĩa Đồng, một hướng đi khác đang được thử nghiệm trên những diện tích đất bãi ven sông Con.
Nhìn những luống tía tô xanh mướt trải dài 6ha ven sông, ông Đàm Thanh Hải (58 tuổi, xóm Yên Bình, xã Nghĩa Đồng) cho biết, khu vực này chủ yếu trồng ngô nhưng hiệu quả kinh tế không cao. Nhận thấy tía tô vừa là cây gia vị quen thuộc, vừa có thể tạo giá trị lớn, ông Hải tìm hiểu kỹ thuật rồi đưa cây vào trồng thử và cho hiệu quả kinh tế cao hơn nhiều lần so với cây ngô. Mỗi năm, tía tô có thể cho thu hoạch 3 lần. Sau khi trừ chi phí, mỗi ha có thể mang lại thu nhập khoảng 70 triệu đồng/lần cắt.
Hiệu quả bước đầu đã khiến nhiều hộ dân tìm đến học hỏi kinh nghiệm, từng bước chuyển một phần diện tích đất bãi từ trồng ngô sang tía tô. Ông Trần Văn Trung - Chủ tịch Hội Nông dân xã Nghĩa Đồng cho biết, tía tô không phải cây trồng mới ở địa phương. Trước đây, một số hộ đã trồng thử nghiệm nhỏ lẻ và nhận thấy hiệu quả kinh tế khá rõ. Từ kết quả này, năm nay địa phương định hướng mở rộng mô hình lên khoảng 10ha.
Điểm khác của mô hình lần này là tía tô được phát triển theo hướng gắn vùng nguyên liệu với chế biến.
HTX Trồng và Chế biến tinh dầu Nghĩa Đồng được thành lập để tổ chức sản xuất, hướng dẫn kỹ thuật, liên kết thu mua và hướng tới đầu tư cơ sở chưng cất tinh dầu ngay tại địa phương.
Tía tô dự kiến được thu mua với giá khoảng 1,5 triệu đồng/tấn. Với 3 vụ thu hoạch mỗi năm, mô hình được kỳ vọng mang lại hiệu quả cao gấp 2-3 lần so với trồng ngô và một số cây trồng truyền thống trên cùng diện tích.
Tuy nhiên, ông Trung cho rằng cần thận trọng trước khi mở rộng diện tích. Đây mới là năm đầu tiên hợp tác xã tổ chức sản xuất ở quy mô lớn, vì vậy sau vụ thu hoạch, các bên sẽ đánh giá cụ thể sản lượng, chi phí, lợi nhuận và tín hiệu thị trường.
Diện tích lớn và liên kết: Bài toán khó giải
Nghệ An hiện có gần 1.000 loài dược liệu quý hiếm, phần lớn phân bố ở khu vực miền núi. Nhiều loại cây như chè hoa vàng, mú từn, sâm 7 lá 1 hoa... đã được nghiên cứu nhân giống, đưa vào trồng và chế biến thành sản phẩm. Từ chỗ phụ thuộc vào khai thác tự nhiên, một số loài đang được đưa xuống đồng ruộng, vào vùng sản xuất tập trung và trở thành nguồn sinh kế cho người dân.
Theo thống kê, tỉnh Nghệ An hiện có khoảng 3.180ha cây dược liệu. Trong số này, khoảng 1.450ha được tổ chức sản xuất, liên kết thông qua HTX, tổ hợp tác và doanh nghiệp. Toàn tỉnh có trên 40 HTX và 75 tổ hợp tác hoạt động trong lĩnh vực trên, thu hút trên 600 thành viên và tạo việc làm cho hàng trăm lao động, tập trung chủ yếu ở khu vực miền núi.
Tuy nhiên, quy mô hiện nay vẫn còn khá khiêm tốn so với tiềm năng. Phần lớn doanh nghiệp, HTX có quy mô nhỏ; công nghệ chế biến còn đơn giản, sản lượng thấp. Vùng sản xuất chưa đủ lớn, trong khi liên kết giữa người trồng và doanh nghiệp chưa thật sự chặt chẽ.
Người tiên phong mở đường

Bài toán này hiện rõ tại vùng đệm Vườn quốc gia Pù Mát, nơi ông Phan Xuân Diện - Giám đốc Công ty CP Dược liệu Pù Mát đã dành gần 10 năm để gây dựng vùng nguyên liệu và tìm cách đưa cây thuốc thành hàng hóa.
Gần một thập kỷ trước, rời công việc nhà nước, trở về Con Cuông gây dựng doanh nghiệp giữa vùng đất heo hút gió ngàn. Vốn tích lũy không nhiều, vợ chồng ông phải cầm cố sổ đỏ, mượn thêm sổ đỏ của bố mẹ hai bên rồi vay vốn đầu tư. Khoảng 4 tỷ đồng được dồn vào xây dựng vùng trồng, nhà xưởng và mua sắm thiết bị sản xuất.
Những ngày đầu, doanh nghiệp chỉ sản xuất trà túi lọc từ cây cà gai leo. Từ sản phẩm đầu tiên, ông Diện từng bước đầu tư chế biến sâu, mở rộng sang cao thảo dược, viên hoàn, trà hòa tan. Đến nay, các sản phẩm của Dược liệu Pù Mát đã có chỗ đứng trên thị trường, trong khi vùng sản xuất được mở rộng lên hơn 20ha, chủ yếu là cà gai leo, dây thìa canh, giảo cổ lam. Khoảng 75% diện tích được thực hiện theo hình thức liên kết với người dân địa phương.

Hiệu quả kinh tế từ cây dược liệu cũng đang tạo sức hút đối với người dân. Theo ông Diện, với cà gai leo, bình quân mỗi hecta sau khi trừ chi phí có thể mang lại hơn 80-120 triệu đồng lợi nhuận mỗi năm, cao gấp 3-4 lần so với một số cây trồng khác.
Chưa hết nghịch lý
Thế nhưng, nghịch lý lại xuất hiện ngay khi người dân muốn mở rộng sản xuất. Nhu cầu liên kết của người dân tăng lên nhưng doanh nghiệp không thể nhận thêm nguyên liệu. “Nhu cầu trên rất lớn, nhưng chúng tôi chưa thể mở rộng diện tích do thị trường tiêu thụ chưa đáp ứng được", ông Diện nói.
Theo ông Diện, miền Tây Nghệ An có nhiều lợi thế phát triển dược liệu, từ quỹ đất, khí hậu, thổ nhưỡng đến hệ sinh thái và nguồn gen phong phú. Hàng nghìn loài cây quý đang tồn tại trong tự nhiên, nhiều loại đã được người dân địa phương sử dụng và nhân giống qua nhiều thế hệ. Tuy nhiên, điểm nghẽn lớn nhất vẫn là đầu ra. Các doanh nghiệp, HTX phần lớn có quy mô nhỏ, khả năng sản xuất và tiêu thụ chỉ vài chục héc-ta. Vì vậy, muốn mở rộng và phát triển dược liệu thành ngành kinh tế, Nghệ An phải đồng thời giải bài toán chế biến và thị trường.

Ông Diện cho rằng ngoài mở rộng diện tích vùng trồng, nhân giống… tỉnh Nghệ An cần thu hút được doanh nghiệp đủ lớn đầu tư nhà máy chế biến, hoặc các doanh nghiệp lớn về liên kết với người dân và ký hợp đồng bao tiêu. Có vùng trồng ổn định, nhà máy chế biến và đầu ra rõ ràng thì mới có thể phát triển bền vững.
BOX: Nghệ An đặt mục tiêu đến năm 2030 có khoảng 8.000ha dược liệu, gồm 4.500ha vùng trồng tập trung, 2.500ha dưới tán rừng và 1.000ha bảo tồn nguồn gen; khoảng 1.500ha đạt tiêu chuẩn VietGAP, GlobalGAP hoặc hữu cơ. Tỉnh cũng đã thành lập Ban Chỉ đạo phát triển dược liệu giai đoạn 2026-2030, định hướng đến năm 2045.