136 tỷ đồng cho Sâm Ngọc Linh: Đà Nẵng có bỏ sót chuỗi giá trị để lo… trồng cây?
HĐND TP Đà Nẵng vừa thông qua Quyết nghị chi 136,4 tỷ đồng để bảo tồn và phát triển sâm Ngọc Linh cùng cây dược liệu giai đoạn 2026 – 2030. Đây là gói tài khóa lớn đầu tiên dành cho dược liệu, sau 1 năm sáp nhập Quảng Nam vào Đà Nẵng. Tuy nhiên, dòng vốn này mới chỉ dừng lại ở tư duy "kích nguồn cung", chưa giải quyết được bài toán gốc rễ. Làm sao để "quốc bảo" thoát khỏi cái bẫy bán thô?

Địa giới mới, tư duy cũ?
Sau sáp nhập, Đà Nẵng nghiễm nhiên sở hữu một địa bàn đặc biệt. Vừa có trung tâm logistics, cảng biển lớn. Vừa ôm trọn "thánh địa" sâm Ngọc Linh tại Nam Trà My. Cơ chế hỗ trợ mới đã nhìn thấy áp lực vốn cực lớn của ngành này, khoảng 7 - 8 tỷ đồng/ha. Nhà nước hỗ trợ 5% chi phí cho các dự án trên 15ha dưới tán rừng. Với mức trần 2 tỷ đồng. Và cấp tối đa 2.000 cây giống cho mỗi nông hộ.
Thế nhưng, điểm nghẽn đầu tiên nằm ở áp lực phân vùng dòng vốn. Sâm Ngọc Linh là loại cây đặc hữu. Nó chỉ sống được ở độ cao trên 1.200m dưới các tán rừng già nguyên sinh.
Thành phố xác định Nam Trà My phải là vùng lõi tối thượng của thượng nguồn. Nơi này chỉ tập trung giữ gen, nuôi trồng và giữ rừng. Vậy, đâu là trung và hạ nguồn? Nơi nào đóng vai trò là nơi đặt các nhà máy tinh chế, kiểm định và làm thương mại? Nếu không phân định rõ, dòng vốn có thể cũng chỉ làm một việc là tạo ra sản phẩm thô.
Ba khoảng trống trong chuỗi giá trị Sâm Ngọc Linh
Đặt gói 136,4 tỷ đồng vào chuỗi giá trị khép kín, bộ máy hành chính mới của Đà Nẵng sẽ phải đối mặt với ba "hố sâu" lớn.
Nông hộ thượng nguồn đối diện rủi ro sinh học và… nợ
Thành phố cấp hàng vạn cây giống, trong khi các báo cáo thực địa lại chỉ ra thực tế khác. Tỷ lệ sống của cây gieo từ hạt hiện chỉ dao động từ 60% đến 70%. Dịch bệnh đã xuất hiện và công nghệ nuôi cấy mô vẫn dậm chân tại chỗ. Cần "đặt hàng" các viện khoa học với chi phí thích đáng để trị dứt điểm bài toán sinh học. Bằng không, việc phát giống đại trà cũng sẽ… nhân rộng rủi ro khi dịch bệnh bùng phát.
Bên cạnh đó, khoản hỗ trợ khuyến lâm 2 triệu đồng/ha/năm là quá ít ỏi. So với chi phí giàn lưới, phân bón, nhân công bảo vệ chống trộm 5 - 6 năm ròng rã. Người nghèo ở Nam Trà My lấy đâu ra vốn đối ứng để bám trụ với cây sâm?
Khoảng trống chế biến sâu và rào cản đất rừng
Khi phần lớn nguồn lực đổ về khâu trồng trọt. Người dân và doanh nghiệp vô hình trung được đặt vào khâu sản xuất thô. Trong khi biên lợi nhuận thực sự nằm ở các phòng thí nghiệm và nhà máy tinh chế. Bởi đó là nơi củ sâm trở thành dược phẩm, mỹ phẩm cao cấp.

Hơn nữa, việc đồng bộ quy định pháp lý giữa hai bộ máy cũ vẫn đang là một áp lực. Doanh nghiệp muốn nhận hỗ trợ phải bước qua một ma trận thủ tục. Nếu không khơi thông được nút thắt này, tiền hỗ trợ sẽ chỉ nằm trên giấy.
Trận chiến sâm giả ở hạ nguồn
Tiền ngân sách sẽ mất sạch ý nghĩa nếu sâm thật phải cạnh tranh với sâm giả, sâm lậu. Muốn giữ thương hiệu, Đà Nẵng bắt buộc phải thiết lập một trung tâm kiểm định DNA siêu tốc tại chỗ. Phải số hóa vùng trồng bằng blockchain, thay vì chỉ quản lý trên văn bản.
Đặc biệt, Đà Nẵng đang nắm một thế mạnh bậc nhất miền trung là du lịch. Thành phố hoàn toàn có thể kết nối tour trải nghiệm từ biển lên thẳng vùng sâm. Phát triển ngành du lịch điều dưỡng, chăm sóc sức khỏe cao cấp. Đây là con đường ngắn nhất để tiêu thụ sâm tại chỗ với giá trị cao nhất.
Bao giờ thương hiệu quốc gia mới thực sự là “quốc bảo” ?
Mọi nỗ lực của Đà Nẵng sẽ va trần kính nếu thiếu đi bệ đỡ chiến lược cấp quốc gia. Gói ngân sách hơn 136 tỷ đồng của một địa phương thực chất chỉ là một mắt xích nhỏ. Sâm Ngọc Linh muốn cất cánh như sâm Hàn Quốc hay mật ong manuka, cần động thái cấp chính phủ.
Trước hết là phá vỡ thế độc quyền địa giới để công nghiệp hóa nguồn cung. Bộ NN&MT cần thiết lập bản đồ quy hoạch các vùng di thực quốc gia. Xác định rõ nơi nào sâm này sẽ giống và cho sản phẩm tốt như vùng Ngọc Linh. Khi vùng lõi Ngọc Linh được giải phóng. Nơi này sẽ tập trung vào nhiệm vụ bảo tồn nguồn gen thuần chủng. Các vùng vệ tinh sẽ đóng vai trò chân rết cấp liệu thô ổn định cho các nhà máy tinh chế lớn.
Tiếp theo là tấm hộ chiếu bước ra thế giới thông qua chuẩn hóa kiểm định quốc tế. Nạn sâm giả vẫn hoành hành. Chính phủ cần chủ trì đồng bộ quy chuẩn hàm lượng hoạt chất saponin đặc hữu của loài sâm này. Đưa nó vào dược điển của các quốc gia lớn như Mỹ, EU hay Nhật Bản. Chỉ khi có các phòng thí nghiệm đạt chuẩn quốc tế ngay tại miền Trung, các tập đoàn dược phẩm đa quốc gia mới chấp nhận đưa cây sâm quốc bảo vào chuỗi sản xuất toàn cầu.
Cuối cùng, thương mại hóa "quốc bảo" không thể mãi dựa vào các phiên chợ sâm. Các giao dịch tiểu ngạch càng dễ bị thao túng giá. Sàn giao dịch quốc gia dành riêng cho sâm tại trung tâm logistics Đà Nẵng là giải pháp căn cơ. Tại đây, mọi củ sâm lên sàn đều được định danh số, minh bạch hóa chất lượng và giá cả, mở đường cho dòng vốn ngoại đầu tư thông qua các công cụ tài chính phái sinh hàng hóa. Khát vọng chế biến sâu cũng cần được tiếp sức bởi một Quỹ đầu tư mạo hiểm công nghệ sinh học quốc gia theo mô hình hợp tác công tư, tài trợ sâu cho việc phân tách hoạt chất đặc hữu làm thuốc đặc trị, thay vì chỉ dừng lại ở các sản phẩm phổ thông như nước tăng lực hay cao sâm.
Khoản chi 136,4 tỷ đồng của HĐND TP Đà Nẵng mới chỉ làm tốt vai trò kích cầu sản xuất ở giai đoạn ban đầu. Để dòng vốn này thực sự sinh lời cho nền kinh tế, chính quyền cần thay đổi tư duy: Không hỗ trợ nông nghiệp theo kiểu "cho con cá", mà phải xây dựng một hệ sinh thái kinh tế sâm.
Thành phố cần lồng ghép các chế tài bắt buộc: Doanh nghiệp nhận ưu đãi chế biến sâu tại đô thị phải cam kết bao tiêu và chuyển giao kỹ thuật cho nông hộ Nam Trà My; các ngân hàng chính sách phải vào cuộc với các gói tín dụng xanh dài hạn (ân hạn 5-7 năm) để người dân nuôi cây; và hỗ trợ sinh kế ngắn hạn (xen canh ba kích, sa nhân) để người dân không phải "bán non" vội vã.
Chỉ khi tạo được một chuỗi giá trị khép kín, an toàn và được bảo vệ nghiêm ngặt bằng cả tư duy địa phương lẫn chiến lược quốc gia, sâm Ngọc Linh mới thực sự trở thành sinh kế thoát nghèo cho đồng bào vùng cao, và đủ sức cạnh tranh sòng phẳng với các thương hiệu nhân sâm toàn cầu.



