Giá cả
Thị trường nông sản 26/8: Cà phê nội địa tăng nhẹ, lúa gạo chịu áp lực điều chỉnh
Bức tranh thị trường nông sản sáng 26/8 ghi nhận những mảng màu trái chiều đầy thú vị. Cà phê nội địa tăng nhẹ, thế giới chìm trong sắc đỏ. Sầu riêng hàng đẹp tiếp tục phân hóa theo chất lượng. Lúa gạo và heo hơi lại bước vào nhịp chững giá, giao dịch trầm lắng chờ đợi những tín hiệu mới.
Cà phê trong nước tăng nhẹ
Thị trường nông sản sáng nay ghi nhận, giá thu mua cà phê tại khu vực Tây Nguyên đồng loạt tăng 1.000 đồng/kg, kéo mặt bằng giá nội địa lên mức 97.000 đến 97.700 đồng /kg.
Theo giacaphe.com, hiện khu vực Đắk Nông (nay thuộc Lâm Đồng) vẫn có mức thu mua tốt nhất với 97.700 đồng/kg.
Các địa phương như Đắk Lắk và Gia Lai cùng giao dịch tại mốc 97.500 đồng/kg sau khi điều chỉnh tăng thêm 1.000 đồng/kg so với phiên giao dịch trước đó.
Còn tại khu vực Lâm Đồng cũ, mức thu mua cũng tăng 1.000 đồng/kg, hiện chốt ở mức 97.000 đồng/kg.
Trái ngược với đà tăng của thị trường nội địa, giá cà phê thế giới chốt phiên gần nhất lại quay đầu giảm mạnh.
Cụ thể, trên sàn London, giá Robusta giao tháng 9/2026 giảm 1,27%, tương đương 48 USD/tấn, xuống còn 3.742 USD/tấn. Hợp đồng kỳ hạn tháng 11/2026 giảm sâu 2,92%, mất 111 USD/tấn, rơi về mức 3.691 USD/tấn.
Tại sàn New York, giá Arabica giao tháng 9/2026 giảm 1,68% còn 371,4 US cent/pound. Hợp đồng giao tháng 12/2026 hạ 1,8%, xuống 335,5 US cent/pound.

Thị trường nông sản cho thấy giá hồ tiêu duy trì xu hướng đi ngang
Thị trường hồ tiêu trong nước sáng nay tiếp tục trạng thái ổn định, giá thu mua tại các vùng sản xuất trọng điểm không đổi so với các phiên trước, dao động trong khoảng 136.000 đến 138.500 đồng/kg.
Cập nhật từ giatieu.com cho thấy, khu vực Đắk Nông (nay thuộc Lâm Đồng) hiện có mức thu mua cao nhất với 138.500 đồng/kg.
Đắk Lắk duy trì ở mức 138.000 đồng/kg. Các địa phương như Gia Lai, Đồng Nai và khu vực Bà Rịa - Vũng Tàu (nay thuộc TP.HCM) cùng giữ mức 136.000 đồng/kg.
Trên thị trường quốc tế, dữ liệu từ Hiệp hội Hồ tiêu Quốc tế cho thấy giá tiêu đen Indonesia được niêm yết tại mức 6.873 USD/tấn. Tiêu đen ASTA 570 của Brazil ở mức 5.900 USD/tấn và Malaysia đạt 9.300 USD/tấn.
Tiêu đen xuất khẩu của Việt Nam duy trì ổn định trong khoảng 5.990 đến 6.050 USD/tấn đối với chủng loại 500 g/l và 550 g/l.
Ở phân khúc tiêu trắng, giá xuất khẩu của Indonesia đạt 9.410 USD/tấn. Việt Nam báo giá 8.400 USD/tấn và Malaysia giữ mức 12.200 USD/tấn.
Lúa gạo hạ nhiệt, sức mua chậm
Theo khảo sát từ một số nguồn và luagaoviet.com, giá lúa gạo sáng tại ĐBSCL ghi nhận nhịp điều chỉnh giảm nhẹ.
Cụ thể, giá lúa tươi các giống OM 5451, OM 34 và OM 18 đồng loạt giảm 100 đồng /kg. Hiện OM 5451 dao động ở mức 6.500 đến 6.600 đồng/kg. OM 34 ở mức 6.000 đến 6.100 đồng/kg và OM 18 và Đài Thơm 8 cùng nằm trong khoảng 6.800 đến 7.000 đồng/kg.
Với phân khúc gạo nguyên liệu xuất khẩu, giá IR 504 và CL 555 cùng giảm 50 đồng/kg, về mức 9.450 đến 9.500 đồng/kg.
Gạo nguyên liệu OM 5451 đứng ở mức 9.300 đến 9.400 đồng/kg. OM 18 dao động từ 8.700 đến 8.850 đồng/kg. OM 380 và Sóc Thơm cùng giữ mốc 7.500 đến 7.600 đồng/kg.
Trên sàn quốc tế, gạo xuất khẩu Việt Nam đi ngang với loại 5% tấm đạt 500 đến 505 USD/tấn, 100% tấm đạt 370 đến 374 USD/tấn và Jasmine ở mức 538 đến 542 USD/tấn. Mức giá này tiếp tục giữ lợi thế so với các đối thủ như Thái Lan và Ấn Độ.
Giá sầu riêng vẫn phân hóa mạnh
Giá thu mua sầu riêng tại các vùng trồng trọng điểm có sự phân hóa sâu sắc dựa trên chất lượng và chủng loại.
Theo khảo sát từ một số kho thu mua và giasaurieng.net, Đắk Lắk hiện là điểm sáng lớn nhất khi sầu Thái hàng đẹp loại A chạm mốc 83.000 đến 85.000 đồng/kg. Loại B ở mức 63.000 đồng/kg.
Sầu Thái loại A phổ thông tại đây dao động 80.000 đến 83.000 đồng/kg. Dòng Musang King loại A tại địa phương này được thu mua ở mức 76.000 đồng/kg.
Tại Đồng Nai, sầu Thái loại A được trả giá 70.000 đồng/kg, loại B ở mức 45.000 đồng/kg. Musang King loại A tại đây dao động 65.000 đến 70.000 đồng/kg.
Khu vực ĐBSCL ghi nhận sầu Thái loại A từ 73.000 đến 80.000 đồng/kg. Còn tại Gia Lai, sầu Thái loại A có giá 68.000 đồng/kg.
Trái ngược với sầu Thái, mặt bằng giá giống Ri6 nhìn chung khá thấp trên toàn quốc.
Hàng loại A tại ĐBSCL, Đắk Lắk và Gia Lai phổ biến quanh 35.000 đồng/kg. Tại Đồng Nai đạt 37.000 đến 40.000 đồng/kg. Các loại Ri6 hàng B giảm sâu về mức 20.000 đến 25.000 đồng/kg.
Heo hơi đồng loạt chững giá trên cả nước
Sau những phiên dao động trước đó, thị trường heo hơi ba miền chính thức đi ngang trên diện rộng, dao động trong vùng 57.000 đến 60.000 đồng/kg.
Cụ thể, miền Bắc duy trì mặt bằng giá cao nhất toàn quốc với mức 59.000 đến 60.000 đồng/kg.
Tại khu vực miền Trung, Tây Nguyên và miền Nam, giá heo hơi neo trong khoảng 57.000 đến 58.000 đồng/kg.
Các tỉnh Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Trị, TP. Huế, Lâm Đồng, Đồng Nai, Tây Ninh, TP.HCM và Vĩnh Long cùng đạt 58.000 đồng/kg.
Mức 57.000 đồng/kg ghi nhận tại Đà Nẵng, Quảng Ngãi, Gia Lai, Đắk Lắk, Khánh Hòa, Cần Thơ, Đồng Tháp, An Giang và Cà Mau.
Cao su giữ giá nội địa, sàn quốc tế nhích nhẹ
Sáng nay, giá thu mua cao su nguyên liệu tại các doanh nghiệp trong nước không thay đổi.
Cụ thể, tại Công ty Cao su Mang Yang, mức giá được phân loại rõ ràng với mủ nước loại 1 chốt ở mức 463 đồng/TSC/kg. Công ty Cao su Bà Rịa, mủ nước mức 1 áp dụng cho độ TSC từ 30 trở lên có giá 452 đồng/độ TSC/kg
Công ty Cao su Phú Riềng thu mua mủ nước ở mức 420 đồng/TSC/kg và mủ tạp là 390 đồng/DRC/kg
Thị trường quốc tế ghi nhận sự phục hồi tại các sàn giao dịch lớn nhờ nguồn cung tại Thái Lan bị gián đoạn bởi mưa lớn.
Theo đó, tại Nhật Bản, giá cao su kỳ hạn tháng 9 trên sàn OSE tăng 1,2% lên 462,5 yên/kg. Hợp đồng giao tháng 1 nhích 0,18% lên 440,7 yên/kg.
Trên sàn Thượng Hải, cao su giao tháng 9 tăng 0,83% lên 17.705 nhân dân tệ/tấn. Cao su butadien giao tháng 10 giảm 1,19% còn 14.495 nhân dân tệ/tấn.
Tại Thái Lan, mủ RSS3 nội địa tiếp tục đi ngang ở mức 87,6 baht/kg.

