Tài chính

Tài chính

Khi tỷ lệ bao phủ nợ xấu nhiều ngân hàng xuống dốc

UYÊN NGUYÊN 17/08/2026 07:43

Bức tranh lợi nhuận ngàn tỉ của các ngân hàng trong nửa đầu năm 2026 dường như đang che khuất một rủi ro tiềm ẩn bấy lâu nay: chất lượng tài sản đang ngày một suy giảm.

Tỷ lệ bao phủ sụt giảm trong khi khối nợ xấu phình to đang dần, làm suy giảm chất lượng tài sản và ảnh hưởng trực tiếp đến bức tranh lợi nhuận của các ngân hàng. TG: Minh Khuê.
Khối nợ xấu phình to đang dần làm suy giảm chất lượng tài sản và ảnh hưởng trực tiếp đến bức tranh lợi nhuận của các ngân hàng. Ảnh: Minh Khuê

Gần 48.000 tỉ đồng nợ xấu tăng thêm chỉ trong 6 tháng đầu năm 2026, đẩy tổng nợ xấu của 27 ngân hàng niêm yết trên sàn chứng khoán lên mức kỷ lục hơn 310.000 tỉ đồng.

Đáng lo ngại hơn, tỷ lệ bao phủ nợ xấu tại nhiều ngân hàng đang sụt giảm, trở thành tín hiệu cảnh báo cho các nhà đầu tư trên thị trường chứng khoán.

Khối nợ xấu phình to

Thống kê từ báo cáo tài chính quý 2/2026 của 27 ngân hàng niêm yết và giao dịch trên sàn chứng khoán cho thấy, tổng số dư nợ xấu (nợ nhóm 3 đến nhóm 5) tính đến hết quý II/2026 đã vượt 310.000 tỉ đồng.

Tốc độ tăng nợ xấu đạt 18% so với thời điểm cuối năm 2025. Điều này tương đương với việc hệ thống phải gánh thêm gần 48.000 tỉ đồng nợ khó đòi chỉ sau 6 tháng. Tỷ lệ nợ xấu bình quân toàn nhóm tăng từ 1,85% lên 2,01%.

Xét về con số tuyệt đối, Sacombank đang đứng đầu danh sách với khối nợ xấu lên tới gần 48.000 tỉ đồng (tăng 19% so với đầu năm). Kế tiếp là BIDV với hơn 45.700 tỉ đồng (tăng 31%) và VPBank với hơn 38.000 tỉ đồng (tăng 21%).

Đáng chú ý, nếu xét về tỷ lệ nợ xấu trên tổng dư nợ, nhóm 10 ngân hàng có tỷ lệ nợ xấu cao nhất đang bộc lộ rủi ro đáng kể. Dẫn đầu danh sách là Sacombank với tỷ lệ nợ xấu 7,54%. Bám sát ngay sau là NCB với 6,43%.

Các vị trí có nợ xấu tỷ lệ cao tiếp theo trong top 10 đều ghi nhận múc trên 3%, bao gồm: VPBank, VIB, OCB (3,64%), SHB, ABBank, BVBank (3,30%)...

Tốc độ tăng trưởng dư nợ rủi ro tại nhóm ngân hàng quy mô vừa cũng đáng báo động, như ABBank ghi nhận nợ xấu tăng 62%, TPBank tăng 59%..., đặc biệt là ngân hàng đang gây chú ý HDBank cũng tăng 38%.

Tỷ lệ bao phủ nợ xấu mỏng, lợi nhuận bị bào mòn

Nợ xấu tăng cao sẽ bớt rủi ro nếu các ngân hàng có đủ nguồn lực để trích lập dự phòng. Tuy nhiên, thực tế đang cho thấy xu hướng ngược lại, "bộ đệm" dự phòng (tỷ lệ bao phủ nợ xấu - LLR) ngày càng mỏng đi.

Nhà đầu tư cần quan tâm đến tỷ lệ bao phủ nợ xấu (LLR) thay vì chỉ nhìn vào bức tranh lợi nhuận. Ảnh: U.Nguyên
Nhà đầu tư cần quan tâm đến LLR thay vì chỉ nhìn vào bức tranh lợi nhuận. Ảnh: U.Nguyên

LLR bình quân của toàn ngành đã giảm từ 83% (cuối năm 2025) xuống chỉ còn khoảng 79% vào cuối tháng 6/2026. Điều này cho thấy tốc độ nợ xấu phát sinh đang vượt tốc độ trích lập dự phòng của nhiều ngân hàng.

Thị trường đang chứng kiến sự phân hóa mạnh mẽ. Trái ngược với những ngân hàng có bộ đệm dự phòng vững chắc như Vietcombank (279%), Bac A Bank (135%) hay VietinBank (134%), nửa dưới bảng xếp hạng lại để lộ điểm yếu với tỷ lệ LLR xuống mức rất thấp.

Top 10 ngân hàng có LLR thấp nhất hiện nay đang là tâm điểm chú ý. Đứng cuối bảng là NCB, khi tỷ lệ lùi về mức 19% (nghĩa là với 100 đồng nợ xấu, ngân hàng chỉ trích lập dự phòng được 19 đồng).

Eximbank theo sau với tỷ lệ 32%. Saigonbank đứng thứ ba từ dưới lên với 36%. Các ngân hàng tiếp theo trong nhóm "bộ đệm" mỏng bao gồm cả những cái tên khá nổi, như OCB, VIB, Nam A Bank, ABBank, BVBank, PGBank, SHB...

Tỷ lệ dự phòng quá thấp đồng nghĩa với việc các ngân hàng đang thiếu hụt nguồn lực phòng ngừa rủi ro. Nếu các khoản nợ xấu trở nên không thể thu hồi, họ bắt buộc phải lấy lợi nhuận trong các quý tiếp theo để bù đắp, từ đó trực tiếp bào mòn cổ tức và làm giảm giá trị cổ phiếu.

Cẩn trọng khi đầucổ phiếu vua

Trên thị trường chứng khoán, nhóm cổ phiếu ngân hàng luôn có sức hút đặc biệt. Tuy nhiên, dưới góc nhìn quản trị rủi ro đầu tư, sự gia tăng của nợ xấu kết hợp cùng dự phòng mỏng là yếu tố nhà đầu tư cần đặc biệt lưu tâm.

Lợi nhuận công bố hiện tại có thể không phản ánh đúng thực chất nếu chất lượng tài sản đi xuống. Một ngân hàng ghi nhận mức tăng trưởng tín dụng ấn tượng và lợi nhuận cao nhưng nợ xấu phình to, trong khi LLR nằm trong top thấp nhất, sẽ sớm đối mặt với áp lực trích lập khổng lồ. Lúc đó, lợi nhuận sẽ sụt giảm và cổ đông sẽ là những người chịu thiệt thòi.

Vì vậy, trước khi quyết định giải ngân vào cổ phiếu ngân hàng, nhà đầu tư cần giữ sự tỉnh táo. Không nên chỉ nhìn vào bề nổi của lợi nhuận trước thuế, hãy đánh giá kỹ bức tranh nợ xấu nội bảng, sự dịch chuyển của dòng tiền, tỷ lệ nợ nhóm 2 và đặc biệt là LLR.

Việc đầu tư vào những ngân hàng nằm trong nhóm có tỷ lệ nợ xấu cao nhất và tỷ lệ bao phủ thấp nhất sẽ tiềm ẩn rủi ro rất lớn. Ngược lại, lựa chọn những ngân hàng duy trì được nợ xấu thấp và có bộ đệm dự phòng vững chắc mới là chiến lược an toàn.

UYÊN NGUYÊN