Đời sống
Thủy điện xả lũ và tang thương hạ du | KỲ 2: Quy trình 1865 - khi thực tế bị ‘trói’ bởi con số trên giấy
Trận đại hồng thủy lịch sử từ ngày 25 đến 31/10/2025, nay còn hằn đó trong lời kể lẫn ánh mắt của người dân ven sông Vu Gia - Thu Bồn, tới mức người ta nói “quên năm Thìn đi”! (trận lụt năm Giáp Thìn 1964 là nỗi ám ảnh luôn được người dân nhắc lại với cái tên "lụt năm Thìn").
Chỉ hai tháng nữa, miền Trung bước vào mùa mưa lũ. Năm này sẽ ra sao? Những câu hỏi vọng lên trời rồi hướng về thủy điện, bởi chỉ có thủy điện xả lũ mới có cái cảnh lút mái nhà, tài sản trôi sông, mạng người chấp chới giữa dòng nước trong đêm khuya tuyệt vọng. Xả lũ “đúng quy trình” và cảnh tang thương, bao giờ mới thôi là cặp bài trùng?
Loạt bài của Nông thôn Việt thử nhìn lại một lần nữa câu chuyện thủy điện xả lũ trên hệ thống sông lớn nhất miền trung này ở Đà Nẵng, với mong muốn không còn những tiếng kêu tuyệt vọng của dân lành trong cơn nước dữ.
Kỳ 1: 5 lần trong 20 ngày và mặc kệ sông trôi
Kỳ 2: Quy trình 1865 - khi thực tế bị ‘trói’ bởi con số trên giấy
Kỳ 3: Cải cách hay là tiếp tục ngập lút nhà!
Kỳ 4: Chuyện từ người canh hồ mùa lũ

Kỳ 2: Quy trình 1865 - khi thực tế bị ‘trói’ bởi con số trên giấy
Bị trói buộc bởi những ngưỡng cao trình cố định trong Quy trình 1865, các hồ chứa lớn trên lưu vực nhanh chóng "no nước" chỉ sau nửa trận mưa đầu tiên được ghi nhận trong báo cáo khí tượng. Sự cứng nhắc trên giấy đã biến các hồ chứa thành những "quả bom nước". Không cách nào khác, các hồ buộc phải xả tràn đúng thời điểm đỉnh lũ tự nhiên dồn xuống, tạo ra thảm họa "lũ chồng lũ" tàn khốc.
Thủy điện trùng trùng điệp điệp
Lưu vực sông Vu Gia - Thu Bồn là một trong 10 lưu vực sông lớn nhất Việt Nam. Lưu vực đó sở hữu tổng lượng mưa trung bình lưu vực thuộc hàng cao nhất cả nước, cùng chế độ thủy văn vô cùng phức tạp, khắc nghiệt. Hai dòng chính Vu Gia và Thu Bồn đan cài với hàng chục phụ lưu trước khi đổ ra biển qua ba cửa sông.
Để khai thác tiềm năng thủy năng và điều tiết dòng chảy, một hệ thống thủy điện bậc thang dày đặc đã hình thành theo Quyết định số 1865/QĐ-TTg ngày 23/12/2019 của Thủ tướng Chính phủ.
Hệ thống này bao gồm các tên tuổi lớn nhỏ: A Vương, Đắk Mi 4, Sông Tranh 2, Sông Bung 4, Sông Bung 4A, Sông Bung 5, Sông Bung 2, Sông Bung 6, A Vương 3, Za Hung, Đắk Mi 2, Đắk Mi 3, Đắk Mi 4b, Đắk Mi 4c, Sông Tranh 3, Sông Tranh 4, Khe Diên, Sông Côn 2 bậc 1, Sông Côn 2 bậc 2, đập An Trạch, Hà Thanh, Thanh Quýt, Bàu Nít và Nhà máy nước Cầu Đỏ.

Trong đó, các hồ chứa lớn đóng vai trò xương sống trong việc cắt lũ và điều tiết nước.
Thủy điện Sông Tranh 2, đóng vai trò là hồ chứa điều tiết năm, có quy mô và lưu lượng lớn nhất trong hệ thống. Dung tích toàn bộ khoảng 729,2 đến 730 triệu m3. Dung tích hữu ích lên tới 521,1 triệu m3, chiếm tỷ trọng áp lực khổng lồ trong việc cắt giảm đỉnh lũ cho hạ du.
Thủy điện Đắk Mi 4, hồ chứa điều tiết năm, mực nước dâng bình thường 258m, mực nước chết 220m. Dung tích hữu ích khoảng 262 triệu m3 . Dung tích toàn bộ khoảng 729,2 đến 730 triệu mét. Đây là mắt xích cực kỳ quan trọng trong việc cắt lũ cho hạ du sông Vu Gia.
Thủy điện Sông Bung 4, hồ chứa điều tiết năm, mực nước dâng bình thường 222m, mực nước chết 170m. Dung tích hữu ích khoảng 222 triệu m3.
Thủy điện A Vương, vận hành từ năm 2008, mực nước dâng bình thường 380m, mực nước chết 340m. Dung tích hữu ích hơn 266 triệu m3.
Thủy điện Sông Tranh 3, vận hành từ năm 2018, mực nước dâng bình thường 71,5 m, mực nước chết 70,5m> dung tích hữu ích khiêm tốn với 3,1triệu m3.
Sự trói buộc chết người của Quy trình 1865: Bài toán "sàn" và "trần"
Nhìn bề ngoài, Quy trình 1865 được thiết kế rất chặt chẽ nhằm cân bằng giữa cắt lũ và tích nước. Tuy nhiên, thực tiễn vận hành qua các đợt thiên tai cực đoan, những lỗ hổng đã lộ rõ trong hệ thống.
Theo quy định hiện hành, trong suốt mùa lũ, các hồ chứa lớn bắt buộc phải hạ và duy trì mực nước không vượt quá ngưỡng "mực nước cao nhất trước lũ", nhằm dành dung tích đón cắt lũ. Ngược lại, trước khi kích hoạt chế độ "tham gia vận hành giảm lũ", hồ tuyệt đối không được tự ý hạ thấp dưới mức "sàn" (mực nước đón lũ thấp nhất).
Đặc biệt, điều kiện để các hồ được phép chuyển sang chế độ cắt giảm lũ cho hạ du, phụ thuộc hoàn toàn vào việc các trạm thủy văn ở hạ du phải đạt đến ngưỡng quy định (trung bình cộng của báo động II và báo động III).
Chính sự cứng nhắc này đã tạo ra một nghịch lý. Đó là dù bản tin dự báo khí tượng cho thấy trước mặt là một siêu bão, hay một đợt mưa cực đoan kéo dài hàng tuần, các chủ hồ vẫn bị… trói tay.
Họ không được phép hạ mực nước hồ xuống thấp hơn mức quy định, cho đến khi trạm hạ du chạm ngưỡng báo động.
Tại các diễn đàn góp ý chính sách và hội thảo khoa học chuyên ngành, các chuyên gia thủy lợi như TS. Lê Hùng (Trường Đại học Bách khoa Đà Nẵng), đại diện lãnh đạo Công ty CP Thủy điện A Vương, Công ty CP Thủy điện Sông Tranh 3 đã nhiều lần phân tích và kiến nghị.
Theo họ, việc áp dụng các mốc cao trình "sàn" và "trần" cố định, cùng điều kiện chờ trạm hạ du đạt mức báo động mới được chuyển chế độ cắt giảm lũ, là quá cứng nhắc. Việc này tước đi quyền chủ động của chủ hồ trước các hình thái mưa cực đoan mang tính đột xuất.
Thậm chí, UBND thành phố Đà Nẵng trong các báo cáo gửi Chính phủ và các bộ ngành. cũng nhiều lần đề xuất phải sửa đổi quy trình này theo hướng linh hoạt hơn.
Hệ quả là gì? Với tổng dung tích hữu ích khổng lồ từ các hồ Sông Tranh 2, A Vương, Đắk Mi 4, Sông Bung 4..., chỉ cần hứng trọn nửa trận mưa đầu tiên trong đợt mưa lũ lịch sử cuối tháng 10/2025 (lượng mưa vượt 1.000mm), các hồ đã nhanh chóng "no nước", chạm mức "trần" dung tích phòng lũ.
Khi không còn dung tích trống để giữ nước, các hồ buộc phải xả tràn qua các cửa van cung, đúng thời điểm dòng lũ tự nhiên từ các triền núi, phụ lưu dồn dập đổ xuống.
Thảm họa "lũ chồng lũ" và nút thắt phối hợp liên vùng
Khi các hồ chứa đồng thời buộc phải tăng lưu lượng xả để bảo đảm an toàn đập đúng lúc đỉnh lũ tự nhiên từ các phụ lưu đổ về, hai dòng nước chồng lên nhau tạo thành hiện tượng "lũ chồng lũ". Đỉnh lũ tổng hợp ở hạ du bị đẩy lên cao chót vót, gây ngập nặng.

Bên cạnh đó, một điểm mù chết người khác là tính liên vùng trên lưu vực Quảng Nam - Đà Nẵng. Sông Vu Gia - Thu Bồn không chỉ là câu chuyện của các huyện miền núi Quảng Nam (cũ), mà là huyết mạch sinh mệnh của hàng triệu dân Đà Nẵng.
Vấn đề "đứt gãy" trong phối hợp, thiếu cơ chế điều hành số dùng chung theo thời gian thực, đã được Đoàn đại biểu Quốc hội đơn vị thành phố Đà Nẵng cùng các cơ quan chuyên môn của thành phố chỉ ra tại nhiều kỳ họp. Đó là sự phối hợp hiện nay vẫn mang tính hành chính cứng nhắc.
Khi thủy điện ở thượng nguồn xả nước đột ngột hoặc giữ nước trái nhịp, hạ du lập tức đối mặt với nguy cơ thiếu nước sinh hoạt. Hoặc nhiễm mặn nặng nề tại khu vực lấy nước của Nhà máy nước Cầu Đỏ (thông qua đập An Trạch). Từ đây, đòi hỏi một cơ chế điều phối liên vùng phải được luật hóa mạnh mẽ hơn.

Cơ quan chức năng của thành phố Đà Nẵng cũng chỉ ra những khoảng trống cần phải lấp ngay.
Đó là độ trễ trong truyền tin thời gian thực. Quy định yêu cầu thông báo xả lũ lần đầu trước 4 giờ, là quá chậm khi lưu lượng nước về hồ biến động từng phút theo lượng mưa nghìn mm. Việc cập nhật các thông số biên độ ngập lụt chi tiết về Ban Chỉ huy phòng thủ dân sự để lệnh xuống cơ sở, còn thiếu tính định lượng.
Còn đây, là điểm khó sửa nữa. Mô hình chính quyền địa phương mới (không còn cấp huyện), khiến công tác hiệp đồng cứu hộ, sơ tán tại cấp cơ sở (như tại Thượng Đức, Phước Trà, Thu Bồn) trong đêm tối gặp nhiều lúng túng. Việc này đòi hỏi phải có kịch bản ứng phó chi tiết, bám sát từng cấp độ rủi ro xả lũ của hồ chứa.

