Giá cả

Giá cả

Thị trường nông sản 21/6: Sầu riêng phân hóa mạnh, heo hơi chững giá, cà phê mất mốc 90.000 đồng

HẢI ĐÔNG • 21/06/2026 09:25

Thị trường nông sản trong nước sáng ngày 21/6/2026 ghi nhận nhiều biến động trái chiều. Trong khi giá sầu riêng có sự chênh lệch rõ nét giữa các vùng trồng do bước vào vụ thu hoạch mới, giá heo hơi tạm thời chững lại sau chuỗi ngày giảm, thì thị trường cà phê lại chịu áp lực đi xuống theo đà lao dốc của các sàn giao dịch quốc tế.

Cà phê quay đầu giảm trên cả hai thị trường

Thị trường nông sản sáng nay cho thấy giá cà phê trong nước tại khu vực Tây Nguyên ghi nhận mức điều chỉnh giảm nhẹ, hiện giao dịch quanh mốc 89.000 đến 89.300 đồng/kg.

Cập nhật từ giacaphe.com cho thấy, khu vực Đắk Nông (nay thuộc Lâm Đồng) vẫn là nơi duy trì mức thu mua cao nhất với 89.300 đồng/kg dù đã giảm 700 đồng/kg so với phiên trước.

Các tỉnh Đắk Lắk và Gia Lai cùng ghi nhận mức giá 89.200 đồng/kg. Lâm Đồng (cũ) có mức thu mua thấp nhất khu vực là 89.000 đồng/kg, tất cả đều đồng loạt giảm 700 đồng/kg.

Sự sụt giảm trong nước hoàn toàn đồng pha với nhịp đi xuống của thị trường thế giới.

Trên cả hai sàn giao dịch quốc tế, giá cà phê khi kết thúc phiên giao dịch hôm qua đều ghi nhận sắc đỏ.

Trên sàn London, giá cà phê Robusta hợp đồng giao tháng 7/2026 giảm 1,22%, tương đương mức giảm 45 USD/tấn, đưa giá bán lùi về mốc 3.640 USD/tấn.

Cùng thời điểm, giá cà phê Arabica trên sàn New York kỳ hạn giao tháng 7/2026 cũng mất 0,99%, giảm 2,75 cent/lb, chốt ở mức 275,10 cent/lb.

Thị trường nông sản trong nước sáng ngày 21/6/2026 ghi nhận nhiều biến động trái chiều.
Thị trường nông sản trong nước sáng ngày 21/6/2026 ghi nhận nhiều biến động trái chiều.

Hồ tiêu duy trì mặt bằng giá cao và ổn định

Trái ngược với đà giảm của cà phê, giá tiêu tại các vùng trồng trọng điểm tiếp tục đi ngang.

Theo giatieu.com, tại khu vực Tây Nguyên, Đắk Lắk và Lâm Đồng cùng neo ở mức 138.000 đồng/kg, trong khi Gia Lai giao dịch ở mốc 136.000 đồng/kg.

Tại khu vực Đông Nam Bộ, TP.HCM đang thu mua hồ tiêu với giá 136.500 đồng/kg, còn tại Đồng Nai là 136.000 đồng/kg.

Nhìn chung, thị trường hồ tiêu trong nước vẫn giữ được sự ổn định vững chắc, dao động trong khoảng 136.000 đến 138.000 đồng/kg.

Trên thị trường quốc tế, theo Hiệp hội Hồ tiêu Quốc tế, giá tiêu đen Lampung của Indonesia đạt 7.175 USD/tấn, còn tiêu trắng Muntok neo ở mức 9.260 USD/tấn.

Tại Malaysia, tiêu đen và tiêu trắng ASTA vẫn duy trì lần lượt ở mức 9.350 USD/tấn và 12.250 USD/tấn.

Cùng lúc đó, giá thu mua tiêu đen ASTA 570 của Brazil đang ở mức 5.850 USD/tấn.

Riêng mặt hàng tiêu xuất khẩu của Việt Nam, tiêu đen loại 500 g/l và 550 g/l đang được chào bán với giá lần lượt là 6.100 USD/tấn và 6.200 USD/tấn. Trong khi tiêu trắng đạt mức 9.000 USD/tấn.

Thị trường nông sản hôm nay ghi nhận giá lúa gạo vẫn giao dịch chậm

Khảo sát tại một số nguồn và luagaoviet.com cho thấy, giá gạo nguyên liệu phục vụ xuất khẩu biến động tùy theo từng chủng loại.

Cụ thể, gạo CL 555 giao dịch ở mức 9.000 đến 9.100 đồng/kg, gạo IR 504 từ 8.700 đến 8.800 đồng/kg, gạo OM 5451 cao hơn ở mức 9.500 đến 9.600 đồng/kg.

Các dòng gạo khác như OM 18 đạt 8.700 đến 8.850 đồng/kg, Đài Thơm 8 từ 9.200 đến 9.400 đồng/kg, riêng gạo OM 380 và Sóc thơm ở mức thấp hơn, từ 7.500 đến 7.600 đồng/kg.

Gạo thành phẩm IR 504 hiện dao động từ 10.750 đến 10.900 đồng/kg. Phụ phẩm ngành gạo như tấm thơm và cám giữ giá ổn định trong khoảng 7.800 đến 8.050 đồng/kg.

Đối với mặt hàng lúa tươi, giá lúa OM 18 và Đài Thơm 8 cùng nằm trong khoảng 6.200 đến 6.400 đồng/kg.

Các giống lúa khác như IR 50404 dao động 5.400 đến 5.600 đồng/kg, OM 5451 từ 5.650 đến 5.850 đồng/kg, và OM 34 từ 5.500 đến 5.700 đồng/kg.

Trên thị trường thế giới, giá gạo xuất khẩu Việt Nam nhìn chung đi ngang.

Gạo Jasmine chào bán ở mức 505 đến 509 USD/tấn sau khi tăng nhẹ 1 USD/tấn. Gạo thơm 5% tấm duy trì mức 485 đến 490 USD/tấn, còn gạo thơm 100% tấm đạt 344 đến 348 USD/tấn.

Trong khi đó, gạo 5% tấm của Thái Lan có giá 473 đến 477 USD/tấn và gạo 100% tấm là 415 đến 419 USD/tấn.

Nguồn cung từ Ấn Độ có giá cạnh tranh hơn với gạo 5% tấm ở mức 347 đến 351 USD/tấn và gạo 100% tấm đạt 280 đến 284 USD/tấn.

Sầu riêng phân hóa mạnh giữa các vùng

Thị trường sầu riêng hiện ghi nhận sự chênh lệch lớn giữa các vùng thu mua.

Theo khảo sát tại một số nguồn và giasaurieng.net cho thấy, Đồng Nai vẫn là nơi có giá cao nhất khi sầu Thái VIP loại A đạt 84.000 đến 85.000 đồng/kg, loại B ở mức 63.000 đến 65.000 đồng/kg.

Sầu Thái loại A thông thường tại đây có giá 78.000 đến 82.000 đồng/kg.

Ngược lại, tại khu vực Đắk Lắk và Gia Lai, do nguồn cung tăng khi bước vào chính vụ, sầu Thái loại A chỉ dao động từ 75.000 đến 80.000 đồng/kg, hàng xô lùa ở Đắk Lắk lùi về mức 60.000 đồng/kg.

Khu vực ĐBSCL chứng kiến sầu Thái loại A ở mức 72.000 đến 74.000 đồng/kg, loại B từ 52.000 đến 54.000 đồng/kg.

Đáng chú ý, giống Ri6 tiếp tục duy trì mặt bằng giá thấp trên cả nước, phổ biến từ 37.000 đến 46.000 đồng/kg cho loại A, và thấp nhất là loại B dao động quanh 22.000 đến 27.000 đồng/kg tùy vùng.

Ngược lại, các dòng sầu riêng cao cấp như Musang King loại A vẫn neo ở mức 75.000 đến 80.000 đồng/kg, và Black Thorn đạt mức kỷ lục 110.000 đồng/kg.

Tại Tây Ninh, sầu Thái loại A dao động từ 69.000 đến 74.000 đồng/kg, tiếp tục khẳng định xu hướng phân hóa giá dựa vào chất lượng và nguồn cung cục bộ.

Giá heo hơi duy trì vùng ổn định

Sau chuỗi ngày điều chỉnh giảm, thị trường heo hơi đã bắt đầu chững lại và duy trì trạng thái ổn định trên toàn quốc với mức giá chung từ 62.000 đến 68.000 đồng/kg.

Miền Bắc tiếp tục dẫn đầu cả nước khi hầu hết các tỉnh thành đều neo ở mức cao, từ 67.000 đến 68.000 đồng/kg.

Bắc Ninh, Hà Nội, Hải Phòng, Phú Thọ và Hưng Yên đang có mức giá thu mua cao nhất nước là 68.000 đồng/kg.

Miền Trung và Tây Nguyên cũng không có biến động, dao động từ 63.000 đến 67.000 đồng/kg.

Thanh Hóa dẫn đầu khu vực với 67.000 đồng/kg, bám sát là Nghệ An và Hà Tĩnh với mức 66.000 và 65.000 đồng/kg.

Các tỉnh như Huế, Đà Nẵng, Quảng Ngãi, Gia Lai, Đắk Lắk, Khánh Hòa và Lâm Đồng có mức giá thấp nhất khu vực là 63.000 đồng/kg.

Tại miền Nam, đà giảm đã chính thức dừng lại, giao dịch hiện phổ biến trong khoảng 62.000 đến 63.000 đồng/kg.

Đồng Nai và TP.HCM duy trì mức 63.000 đồng/kg, trong khi các tỉnh Tây Ninh, Đồng Tháp, An Giang, Vĩnh Long, Cần Thơ và Cà Mau ghi nhận mức 62.000 đồng/kg.

Giá cao su trong nước vẫn duy trì vùng giá tốt

Thị trường cao su thế giới vừa trải qua một tuần giao dịch nhiều sóng gió.

Cả ba sàn TOCOM, SHFE và SGX đều tăng mạnh vào đầu tuần nhưng lập tức đối mặt với áp lực chốt lời.

Tại Nhật Bản, dù giá hợp đồng RSS3 trên sàn TOCOM từng vượt lên 440 JPY/kg nhưng sau đó đã suy yếu do lực mua đầu cơ giảm và sức ép từ đồng yen.

Trên sàn SHFE, cao su tự nhiên có lúc vượt 18.100 CNY/tấn trước khi điều chỉnh về vùng 17.750 đến 17.800 CNY/tấn.

Riêng sàn SGX lại ghi nhận sự phục hồi vào phiên cuối tuần với mức tăng 0,18 đến 0,44%, phản ánh nhu cầu thực tế ổn định từ ngành sản xuất lốp xe tại châu Á.

Tại thị trường trong nước, giá mủ cao su tiếp tục duy trì sự bình ổn tại các công ty lớn.

Cao su Mang Yang thu mua mủ nước loại 1 ở mức 463 đồng/TSC/kg, mủ đông tạp loại 1 giá 459 đồng/kg.

Công ty Phú Riềng áp dụng mức 420 đồng/TSC/kg cho mủ nước và 390 đồng/DRC/kg cho mủ tạp.

Tại Bà Rịa, giá mủ nước cao nhất là 452 đồng/độ TSC/kg, mủ tạp đạt mức tối đa 18.000 đồng/kg.

Công ty Bình Long đưa ra mức giá 545 đồng/độ/TSC/kg cho mủ nước mua tại nhà máy và 18.000 đồng/kg cho mủ tạp.

HẢI ĐÔNG