Chuyện làm ăn

Chuyện làm ăn

Truy xuất nguồn gốc, thấy gì? | Bài 2: Phía sau mã QR: Làm dễ, xây niềm tin mới khó

DIỄM CHI – ĐOÀN QUÝ 10/06/2026 06:24

Dù thao tác quét mã QR để nhận thông tin sản phẩm có vẻ đơn giản, việc truy xuất nguồn gốc thực chất lại đòi hỏi một hệ thống dữ liệu phức tạp phải được xây dựng và duy trì liên tục.

Từ ngày 1/7/2026, hàng loạt nông sản thực phẩm sẽ bắt buộc gắn tem QR.

Nhưng phía sau chiếc mã QR không chỉ là câu chuyện công nghệ hay thủ tục hành chính.

Đó là cuộc chuyển đổi lớn của toàn bộ chuỗi sản xuất, từ cách người nông dân ghi chép dữ liệu, doanh nghiệp quản trị sản phẩm đến cách người tiêu dùng kiểm chứng niềm tin.

Loạt bài của Tạp chí Nông thôn Việt ghi nhận thực tế triển khai, những khúc mắc và đi tìm lối ra để truy xuất nguồn gốc thực sự trở thành nền tảng của một nền nông nghiệp minh bạch, hiện đại.

Theo số liệu vừa được Vụ Khoa học và Công nghệ thuộc Bộ NN - MT công bố, tính đến ngày 25/5/2026, hệ thống truy xuất nguồn gốc của Bộ đã ghi nhận 1.396 dòng dữ liệu của 112 sản phẩm và kết nối với 17.987 cơ sở sản xuất tại 14 tỉnh, thành phố.

Hệ thống này hiện đang vận hành thông qua 4 đơn vị giải pháp công nghệ, thu hút sự tham gia của 149 doanh nghiệp, 547 nông hộ, 255 vùng trồng và 919 lô hàng.

Những con số này, sẽ được nhìn nhận rất đơn giản, nếu chỉ quét mã để lấy dữ liệu. Nhưng phía sau con tem nhỏ đó, là cả một câu chuyện dài, phức tạp. Nó đòi hỏi phải được xây dựng và duy trì liên tục, bằng kỹ năng lẫn trách nhiệm và chữ tín.

truy-xuat-nguon-goc-san-pham-12.jpg
Phía sau mã QR không chỉ là câu chuyện công nghệ hay thủ tục hành chính.

Bài toán lớn phía sau tấm tem nhỏ để truy xuất nguồn gốc

Cầm trên tay những sản phẩm trà bí thơm chuẩn bị giao qua kênh bán hàng trực tuyến, chuyện từ bà Ma Thị Ninh - Chủ tịch Hội đồng quản trị Hợp tác xã Yến Dương mở ra lộ trình không hề ngắn khi nông sản lên sàn. Theo bà, mỗi lô hàng như trà bí thơm, miến dong hay gạo nếp Tài đều bắt buộc phải có hồ sơ nguyên liệu.

Ở đó ghi nhận chi tiết từng công đoạn sản xuất. Thời gian thu hoạch. Kết quả kiểm nghiệm. Đóng gói. Vận chuyển... Tất cả đều phải được cập nhật đầy đủ vào mã QR. Điều này đồng nghĩa với việc các doanh nghiệp phải từ bỏ cách quản lý truyền thống. Sổ sách ghi chép tay, kinh nghiệm cá nhân đều không có cửa chen vào.

Đối với các doanh nghiệp lớn, việc chuyển đổi này hoàn toàn khả thi. Thế nhưng, đây lại là một thách thức không hề nhỏ đối với các hợp tác xã và doanh nghiệp nhỏ ngành nông nghiệp.


1a.jpg
Bà Ma Thị Ninh - Chủ tịch Hội đồng quản trị Hợp tác xã Yến Dương.

Thực tế tại nhiều vùng sản xuất, vẫn phổ biến thói quen ghi chép bằng tay, không lưu lại đầy đủ nhật ký canh tác. Hậu quả là khi có yêu cầu truy xuất, việc tập hợp dữ liệu trở nên vô cùng khó khăn.

Đã có không ít đơn vị từng hào hứng làm mã QR nhưng chỉ sau một thời gian đành bỏ dở. Nguyên nhân cốt lõi không nằm ở việc tạo mã mà nằm ở khâu cập nhật dữ liệu.

Bà Nguyễn Thị Thu - Giám đốc Công ty TNHH OCA Việt Nhật, nhấn mạnh một góc nhìn khác. Rằng một mã QR chỉ thực sự phát huy giá trị khi thông tin phía sau nó được duy trì liên tục. Nếu dữ liệu không được bổ sung thường xuyên, mã truy xuất chỉ mang tính hình thức.

Việc này còn có ý nghĩa đặc biệt đối với hàng xuất khẩu. Nhà nhập khẩu có thể đình chỉ toàn bộ lô hàng nếu phát hiện thông tin trên mã vạch không được cập nhật. Chẳng hạn như khi vùng nguyên liệu cũ đã không còn tồn tại.

Lời cảnh báo này cũng chính là nỗi băn khoăn của nhiều người tiêu dùng hiện nay. Họ lo ngại việc dán tem chỉ mang tính đối phó để che giấu những thông tin sơ sài. Và phải chăng không phản ánh đúng quá trình sản xuất thực tế?

truy-xuat-nguon-goc-san-pham-9.jpg
Mọi thông tin từ thời gian thu hoạch, kết quả kiểm nghiệm đến khâu đóng gói và vận chuyển đều phải được cập nhật đầy đủ vào mã QR.

Cuộc chạy đua với dữ liệu số

Tại Đắk Lắk, nơi người nông dân đang tích cực tham gia vào các chuỗi sản xuất cà phê, trái cây và nông sản chế biến, câu chuyện mã QR đang được nhắc đến ngày càng nhiều.

Ông Trần Đình Trọng - Giám đốc Hợp tác xã Nông nghiệp Dịch vụ Công bằng Ea Tu, khẳng định chuyển đổi số giờ đây là xu hướng tất yếu chứ không còn là một sự lựa chọn của các doanh nghiệp.

Thông tư của Bộ Công Thương lần này không chỉ mang tính nhắc nhở hay cảnh tỉnh. Nó đã trở thành một hành lang pháp lý bắt buộc các nhà sản xuất phải tuân thủ.

Theo ông Trọng, thế giới đã đi trước Việt Nam hàng chục năm trong việc ứng dụng dữ liệu vào quản trị sản xuất. Do đó, nếu không chịu thay đổi, nông sản Việt sẽ rất khó có cơ hội tham gia sâu vào các chuỗi cung ứng hiện đại.

Việc số hóa giúp người mua minh bạch hóa mọi thông tin từ xuất xứ. Họ sẽ biết được người sản xuất, loại vật tư được sử dụng cho đến từng công đoạn chế biến. Đồng thời, nguồn dữ liệu này còn hỗ trợ đắc lực cho công tác quản lý sản xuất, bán hàng trực tuyến. Nền móng này sẽ giúp người bán mở rộng thị trường.

tran-dinh-trong.jpg
Ông Trần Đình Trọng - Giám đốc Hợp tác xã Nông nghiệp Dịch vụ Công bằng Ea Tu.

Rào cản lớn nhất đôi khi không nằm ở tài chính hay công nghệ mà nằm ở chính tư duy. Ông Trọng chia sẻ rằng các nhà sản xuất không nên bảo thủ. Nếu lãnh đạo hợp tác xã chưa am hiểu công nghệ, họ hoàn toàn có thể thuê hoặc giao việc cho những người trẻ.

Yếu tố quyết định là biết sử dụng đúng người và có tư duy sẵn sàng thay đổi. Tuy nhiên, bài toán nhân lực công nghệ vẫn đang làm khó nhiều trang trại, hợp tác xã và doanh nghiệp vừa.

Người nông dân tuy giỏi canh tác nhưng lại thiếu kỹ năng làm việc với dữ liệu. Trong khi đó, lớp lao động trẻ có kiến thức số lại thường có xu hướng tìm việc tại các thành phố lớn. Chính khoảng trống này đã khiến không ít đơn vị lúng túng khi bắt tay vào triển khai hệ thống truy xuất nguồn gốc.

Làm mã QR không khó, tạo niềm tin mới là gian nan

Việc tạo mã QR hiện nay, theo bà Nguyễn Thị Hà - Giám đốc Công ty TNHH Sản xuất Chế biến và Thương mại Hà Trung tại Đắk Lắk, không còn là vấn đề phức tạp.

Doanh nghiệp chỉ cần sử dụng dịch vụ của các công ty công nghệ, cập nhật thông tin quy trình sản xuất và in lên bao bì, là xong.

Tuy nhiên, câu chuyện thực tế của thị trường lại phức tạp hơn nhiều. Phần lớn người tiêu dùng Việt Nam hiện nay chưa hình thành thói quen quét mã truy xuất đối với mọi loại sản phẩm.

Họ vẫn chủ yếu dựa vào uy tín thương hiệu, phản hồi của khách hàng. Không ít người, từ những thông tin "truyền miệng" trên mạng xã hội, là đưa ra quyết định mua sắm.

nguyen-thi-ha.jpg
Bà Nguyễn Thị Hà - Giám đốc Công ty TNHH Sản xuất Chế biến và Thương mại Hà Trung (hàng đầu - thứ thứ tư từ phải qua).

Chỉ bằng một thao tác gõ tên sản phẩm trên Google, Facebook hay TikTok, người tiêu dùng có thể tiếp cận hàng loạt hình ảnh, video trải nghiệm và đánh giá thực tế. Trong rất nhiều trường hợp, niềm tin được hình thành từ chính những phản hồi này. Và doanh số bán ra cũng theo đó mà biến động.

Điều này đặt ra một yêu cầu hoàn toàn mới cho các doanh nghiệp: truy xuất nguồn gốc không thể tồn tại như một công cụ độc lập. Nó bắt buộc phải gắn liền với chất lượng sản phẩm, giá trị thương hiệu. Đừng nghĩ rằng có đủ dữ liệu truy xuất là hàng chạy... vù vù. Người ta mua hàng chất lượng, chứ không mua công nghệ.

DIỄM CHI – ĐOÀN QUÝ