Câu chuyện nông nghiệp hôm nay
ĐBSCL: Đằng sau nghịch lý vựa lúa ‘gánh’ 7% doanh nghiệp cả nước
Báo cáo kinh tế thường niên Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) tại Cần Thơ ngày 28/5 đưa ra nhận định: Miền Tây đang mất dần vị thế doanh nghiệp trên bản đồ kinh tế quốc gia. Từ chỗ chiếm 22% tổng số doanh nghiệp cả nước vào năm 2000, đến nay tỷ lệ này của ĐBSCL chỉ còn vỏn vẹn khoảng 7%.

Sau khi Long An - "cầu nối" công nghiệp duy nhất - được sáp nhập về vùng Đông Nam Bộ, những tổn thương nội tại của nền kinh tế miền Tây càng lộ rõ. Mật độ doanh nghiệp thấp nhất nước. Tỷ lệ lao động qua đào tạo lẹt đẹt ở mức 16,3%. Có tới 42% doanh nghiệp vẫn đang loay hoay ở quy mô siêu nhỏ.
Tuy nhiên, nếu chỉ đổ lỗi cho những điểm nghẽn cố hữu như hạ tầng giao thông hay chất lượng nhân lực, là không đủ. Sự suy giảm này thực chất là hệ quả của một cấu trúc kinh tế mang tính lịch sử. Những bất lợi trong phân bổ nguồn lực. Cả những nghịch lý đến từ chính sự ưu đãi của tự nhiên... Tất cả góp phần làm nên con số lao đốc đó.
ĐBSCL: 'Cái bẫy' từ sứ mệnh an ninh lương thực
ĐBSCL lâu nay vẫn gánh vác trọng trách chiến lược khi đóng góp hơn 50% sản lượng lúa. Rồi 65% sản lượng thủy sản và trên 90% lượng gạo xuất khẩu của cả nước.
Nhưng chính vai trò trụ cột này lại vô tình tạo ra một cái bẫy kinh tế: Biên lợi nhuận thấp và rất khó tích lũy lớn.
Sản xuất nông - thủy sản là phụ thuộc nặng nề vào thời tiết và sự trồi sụt của thị trường quốc tế. Lợi nhuận của xuất khẩu gạo hay tôm, cá mỏng hơn rất nhiều so với các ngành khác. Bất động sản, công nghệ, công nghiệp chế tạo tại miền Đông hay miền Bắc dễ thu lãi hơn. Sản xuất thô với rủi ro lớn, là nguyên nhân làm doanh nghiệp ở đây luôn khó khăn nguồn lực. Tái đầu tư vào công nghệ sâu, chuyển đổi số, là câu chuyện khiến họ chưa ngừng loay hoay.
Bên cạnh đó, sự trù phú mang tính tự nhiên của sản vật miền sông nước, cũng tạo ra một hệ quả ngược trong tâm lý kinh doanh. Nguồn sống cơ bản dễ được đáp ứng. Động lực tích lũy vốn lớn. Chấp nhận rủi ro để mở rộng quy mô từ hộ gia đình lên doanh nghiệp lớn tại đây không cao. Đó là những lí do vì sao mô hình kinh tế hộ là nhiều. Và tỷ lệ doanh nghiệp siêu nhỏ cao nhất nước.
Thiệt thòi từ độ trễ hạ tầng và dòng vốn
Doanh nghiệp không thể lớn mạnh nếu thiếu đi huyết mạch giao thương và dòng máu tài chính. Ở cả hai phương diện này, miền Tây đều đang phải chịu những thiệt thòi lớn. Nguyên nhân do độ trễ mang tính chính sách.
Đông Nam Bộ và miền Bắc đã hoàn thiện mạng lưới cao tốc, cảng biển nước sâu từ hơn một thập kỷ trước để đón các làn sóng FDI. Còn ĐBSCL, phải đến giai đoạn 2025-2026 mới bắt đầu định hình được 550 km cao tốc đầu tiên. Sự chậm trễ về hạ tầng này đẩy chi phí logistics lên tới 20-25% giá thành sản phẩm. Buộc 70% hàng hóa của vùng phải đi đường vòng qua TP.HCM. Doanh nghiệp miền Tây vì thế phải cạnh tranh trong thế "đi chân đất đua với người đi giày xịn".
Không chỉ nghẽn đường đi, miền Tây còn nghẽn cả dòng vốn do những định kiến tài chính. Hệ thống ngân hàng luôn vận hành theo nguyên tắc tối ưu hóa lợi nhuận và phòng vệ rủi ro. Tài sản thế chấp chủ yếu là đất nông nghiệp, ao nuôi, nhà xưởng vùng sâu, vốn không được ngân hàng mặn mà. Bởi bị xếp vào nhóm rủi ro cao do tác động của biến đổi khí hậu. Hệ quả là dòng vốn tài chính chảy về đây chỉ nhỏ giọt.
Khoảng trống chất xám và áp lực địa chất
Sự suy giảm vị thế doanh nghiệp tại ĐBSCL còn là một câu chuyện mang tính xã hội sâu sắc về con người và môi trường.

Tỷ lệ lao động qua đào tạo thấp (16,3%), không hoàn toàn do người miền Tây lười học. Lí do chủ yếu là do sự thiếu vắng cơ hội việc làm tại chỗ. Làn sóng ly hương kéo dài nhiều thập kỷ qua đã hút cạn nguồn nhân lực trẻ khỏe. Họ tỏa về các thủ phủ công nghiệp như Bình Dương, Đồng Nai hay TP.HCM. Hệ quả là miền Tây bị bỏ lại một khoảng trống rất lớn. Thiếu cả về thế hệ nhân lực chất lượng cao và các doanh nhân kế cận.
Mặt khác, lối sống hào sảng, thuận theo tự nhiên của người miền Tây vốn là một di sản đẹp, nhưng tình thế này, trở nên bất lợi. Đó là va đập với kỷ luật nghiêm ngặt của quản trị doanh nghiệp và tác phong công nghiệp hiện đại. Việc xây dựng và giữ chân một đội ngũ lao động công nghiệp gắn bó dài hạn, là khó. Nên không lạ, các nhà đầu tư tại đây luôn kêu "khát" nhân lực.
Thách thức này càng trở nên trầm trọng hơn khi miền Tây hứng chịu biến đổi khí hậu vào nhóm tổn thương nặng nề nhất thế. Sụt lún, hạn mặn và sạt lở quanh năm và càng gay gằ. Khi một doanh nghiệp lớn tìm kiếm nơi đặt đại bản doanh cho tầm nhìn 20-30 năm, họ nhìn và ngại. Bởi chi phí rủi ro địa chất tại vùng này bị đẩy lên quá cao. Khi các "con sếu đầu đàn" né tránh vùng lõi để chọn các tọa độ an toàn hơn, hệ quả miền Tây gánh chịu rất rõ. Đó là hệ sinh thái doanh nghiệp vệ tinh, công nghiệp phụ trợ tự động bị thu hẹp, thiếu đi động lực dẫn dắt.
Thay đổi luật chơi để bứt phá
ĐBSCL rõ ràng không thể lấy lại vị thế doanh nghiệp nếu cứ tiếp tục đi theo lối mòn công nghiệp hóa truyền thống. Đến năm 2030, như các chuyên gia đã khuyến nghị, xung lực của miền Tây phải khác. Đó là một tư duy hoàn toàn mới: Chuyển từ kinh tế thích ứng tự nhiên sang kinh tế tri thức và công nghiệp xanh.
Để làm được điều này, miền Tây cần những thể chế vùng có thực quyền. Cùng những cơ chế bảo lãnh tín dụng công đủ mạnh để doanh nghiệp nội địa có thể tiếp cận nguồn vốn lớn. Đột phá của ĐBSCL không chỉ nằm ở những dải nhựa cao tốc đang hình thành. Mà phải nằm ở việc gầy dựng được một cộng đồng doanh nghiệp đủ tầm. Đó phải là những doanh nghiệp biết biến tài nguyên bản địa thành giá trị gia tăng cao. Biến thách thức khí hậu thành năng lực thích ứng, và biến bản sắc vùng thành lợi thế cạnh tranh bền vững.
Thay vì chỉ chấp nhận làm một vựa lúa thô với lợi nhuận mỏng manh, miền Tây phải khác đi. Đó là cần phải trở thành trung tâm chế biến sâu và logistics xanh của cả khu vực.

