Đời sống

Giáo dục

Nâng chuẩn giảng viên: Học vị hay năng lực thực chất?

GS.TS HUỲNH VĂN SƠN - Phó Chủ tịch Hội Tâm lý học Việt Nam 16/05/2026 17:51

Đại học, xét đến cùng, không phải là nơi chỉ truyền đạt tri thức có sẵn mà là môi trường tạo ra tri thức mới, hình thành năng lực tư duy phản biện và khả năng thích ứng nghề nghiệp cho người học. Vì vậy, chất lượng của giảng viên chính là câu chuyện của chất lượng nguồn nhân lực và năng lực cạnh tranh quốc gia.

Trong tiến trình chuẩn hóa giáo dục đại học, Bộ Giáo dục và Đào tạo đang cho thấy quyết tâm nâng chuẩn đội ngũ, đặc biệt thông qua định hướng gia tăng tỉ lệ tiến sĩ. Ảnh: XDCS
Trong tiến trình chuẩn hóa giáo dục đại học, Bộ Giáo dục và Đào tạo đang cho thấy quyết tâm nâng chuẩn đội ngũ, đặc biệt thông qua định hướng gia tăng tỉ lệ tiến sĩ. Ảnh: XDCS

Khoảng cách về mật độ học thuật

Trong tiến trình chuẩn hóa giáo dục đại học, Bộ Giáo dục và Đào tạo đang cho thấy quyết tâm nâng chuẩn đội ngũ, đặc biệt thông qua định hướng gia tăng tỉ lệ tiến sĩ.

Đây không chỉ là yêu cầu về văn bằng mà là áp lực chuyển đổi chất lượng học thuật trong bối cảnh cạnh tranh toàn cầu. Định hướng này tất yếu nhận về nhiều ý kiến trái chiều. Người đồng tình vì xem đây là bước đi tất yếu, kẻ lo ngại về tính khả thi hay nguy cơ hình thức. Tuy nhiên, nếu nhìn sâu hơn, đây là tín hiệu cho thấy giáo dục đại học Việt Nam đang đứng trước yêu cầu phải tái định vị.

Nếu nhìn vào cơ cấu đội ngũ hiện nay, khoảng cách giữa Việt Nam với các hệ thống giáo dục tiên tiến nằm ở cả chất lượng nghiên cứu lẫn mật độ học thuật. Theo số liệu của Bộ Giáo dục và Đào tạo, tỉ lệ giảng viên đại học có trình độ tiến sĩ của Việt Nam mới dao động khoảng 33% và phân hóa rất mạnh. Ở một số đại học trọng điểm như Đại học Quốc gia Hà Nội hay Đại học Quốc gia TP.HCM, tỉ lệ này đã đạt trên 60%, thậm chí có khoa vượt 70%. Ngược lại, ở nhiều trường địa phương, trường ngoài công lập hoặc các ngành thiên về ứng dụng, giảng viên có học vị tiến sĩ vẫn chưa chiếm đa số; nhiều ngành vẫn chủ yếu vận hành bằng đội ngũ thạc sĩ.

Trong khi đó, tại Harvard, MIT hay Oxford, bằng tiến sĩ gần như là chuẩn tối thiểu và giảng viên toàn thời gian đều là các nhà nghiên cứu hoạt động liên tục. Tại Đại học Quốc gia Singapore (NUS), gần 100% giảng viên cơ hữu sở hữu học vị tiến sĩ. Tại KAIST (Hàn Quốc) hay Đại học Thanh Hoa (Trung Quốc), chuẩn tuyển dụng còn gắn liền với công bố quốc tế và kinh nghiệm hậu tiến sĩ. Khoảng cách ấy cho thấy giáo dục đại học Việt Nam vẫn đang ở giai đoạn mở rộng quy mô nhiều hơn là đạt đến trình độ tinh lọc học thuật. Trong khi thế giới xem đội ngũ tiến sĩ là nền tảng để vận hành hệ sinh thái đổi mới sáng tạo, thì nhiều trường trong nước vẫn loay hoay với bài toán đủ chuẩn mở ngành hay đủ người đứng lớp.

Bản chất của học vị giảng viên và quyền lợi người học

Việc giảng viên có trình độ tiến sĩ không phải để “nêu danh học thuật” mang tính hình thức. Điều cốt lõi nằm ở chỗ giáo dục hiện đại không thể tách rời hoạt động nghiên cứu. Một giảng viên không thể chỉ giảng lại giáo trình mà cần biết cập nhật, phản biện tri thức cũ và tạo ra giá trị mới. Quá trình đào tạo tiến sĩ nghiêm túc chính là quá trình hình thành năng lực nghiên cứu độc lập và tư duy khoa học chuyên sâu.

aaa.jpg
GS.TS Huỳnh Văn Sơn -
Phó Chủ tịch Hội Tâm lý học Việt Nam

Nâng chuẩn giảng viên còn là chiến lược dài hạn để hình thành đội ngũ chuyên gia chất lượng cao cho quốc gia. Không thể kỳ vọng một nền đại học tạo ra các chuyên gia đẳng cấp quốc tế nếu đội ngũ giảng dạy chưa được đầu tư và chuẩn hóa tương xứng.

Trong xu thế quốc tế hóa, sinh viên Việt Nam đang bước vào thị trường lao động toàn cầu. Nếu giảng viên thiếu năng lực học thuật và trải nghiệm nghiên cứu, người học rất khó được tiếp cận nền giáo dục có chiều sâu. Mặt khác, việc nâng chuẩn liên quan trực tiếp đến quyền lợi người học khi học phí ngày càng tăng theo xu thế tự chủ đại học.

Sinh viên và phụ huynh có quyền được thụ hưởng một môi trường đào tạo tương xứng với chi phí. Nếu học phí tăng nhưng trình độ đội ngũ đứng lớp đứng yên thì đó là một nghịch lý khó chấp nhận.

Áp lực đổi mới và nguy cơ "chuẩn hóa hình thức"

Bất kỳ sự thay đổi nào liên quan đến chuẩn chất lượng cũng sẽ tạo ra áp lực. Một trong những lo ngại lớn nhất là nguy cơ “chạy tiến sĩ”. Vấn nạn này khiến học vị không phản ánh đúng năng lực thực chất. Đây là vấn đề có thật. Nhưng lỗi không nằm ở chủ trương nâng chuẩn. Nó nằm ở cách quản lý chất lượng đào tạo và cơ chế đánh giá. Nếu lo ngại tiêu cực mà dừng lại, chúng ta vô hình trung chấp nhận sự trì trệ.

Điều cần làm là xây dựng cơ chế kiểm soát chất lượng đào tạo tiến sĩ nghiêm túc hơn. Đó là tăng cường chuẩn công bố khoa học, chuẩn ngoại ngữ, đạo đức học thuật; đồng thời có cơ chế sàng lọc sau đào tạo. Một tiến sĩ thực chất phải được đánh giá bằng năng lực nghiên cứu. Đi cùng là họ có đóng góp học thuật và giá trị giảng dạy thực tế chứ không chỉ ở tấm bằng. Giáo dục đại học không thể vận hành theo logic đủ giấy tờ mà phải hướng đến đủ năng lực.

Tuy nhiên, cũng cần tránh cách nhìn cực đoan cho rằng chỉ có tiến sĩ mới đủ giá trị giảng dạy. Ảnh: TL
Tuy nhiên, cũng cần tránh cách nhìn cực đoan cho rằng chỉ có tiến sĩ mới đủ giá trị giảng dạy. Ảnh: TL

Tuy nhiên, cũng cần tránh cách nhìn cực đoan cho rằng chỉ có tiến sĩ mới đủ giá trị giảng dạy. Trên thực tế, nhiều chuyên gia đầu ngành, nghệ sĩ, kỹ sư, doanh nhân có năng lực nghề nghiệp xuất sắc dù chưa có học vị tiến sĩ vẫn có đóng góp rất lớn. Đặc biệt ở các lĩnh vực ứng dụng, công nghệ mới, hay ngành sáng tạo, kinh nghiệm thực tiễn đôi khi là yếu tố quyết định.

Chính sách nâng chuẩn vì vậy cần có độ mở nhất định để tránh áp dụng cứng nhắc. Nếu quá tuyệt đối hóa học vị mà bỏ qua năng lực thực tiễn, đại học dễ rơi vào tình trạng “chuẩn hóa hình thức” nhưng lại thiếu tính ứng dụng, chương trình đạt chuẩn trên giấy tờ nhưng lại chậm nhịp với thị trường lao động.

Xây dựng hệ sinh thái học thuật linh hoạt

Chất lượng đào tạo chỉ thực sự bền vững khi nhà trường tạo được sự kết nối hữu cơ giữa giảng đường với đời sống nghề nghiệp. Vì vậy, bên cạnh việc nâng cao trình độ tiến sĩ cho đội ngũ cơ hữu, cần đồng thời thể chế hóa mạnh mẽ cơ chế mời giảng, đồng giảng đối với các chuyên gia thực tiễn chất lượng cao.

Đó có thể là các doanh nhân có năng lực thực chiến, kỹ sư trưởng công nghệ cao, bác sĩ đầu ngành, luật sư hay chuyên gia tài chính. Họ có thể chưa có bằng tiến sĩ, nhưng họ sở hữu vốn kinh nghiệm, năng lực giải quyết vấn đề thực tế – những thứ mà môi trường học thuật truyền thống không phải lúc nào cũng cập nhật kịp thời. Trong các lĩnh vực có tốc độ thay đổi chóng mặt như trí tuệ nhân tạo (AI), khoa học dữ liệu hay truyền thông đa nền tảng, sự hiện diện của các chuyên gia này là bắt buộc để người học không bị tụt hậu.

Để chính sách nâng chuẩn thực sự đi vào cuộc sống, cần các giải pháp đồng bộ.

Về phía Nhà nước, cần có chiến lược đầu tư dài hạn bằng học bổng, quỹ nghiên cứu và cơ chế thu hút nhân tài. Không thể kỳ vọng giảng viên phát triển học thuật đỉnh cao trong điều kiện thu nhập thấp và áp lực hành chính bủa vây.

Về phía các trường đại học, thay vì chỉ chạy theo số lượng tuyển sinh, doanh thu hay các bộ hồ sơ kiểm định đẹp đẽ, cần thay đổi tận gốc văn hóa học thuật. Trường học phải là nơi khuyến khích nghiên cứu, tôn trọng sáng tạo và có lộ trình nâng chuẩn phù hợp, hỗ trợ giảng viên trẻ thay vì áp dụng cơ học quy định.

Về phía giảng viên, nâng chuẩn cần được nhìn nhận như nhu cầu tự thân. Học vị tiến sĩ, ở ý nghĩa tích cực nhất, chính là biểu hiện của tinh thần học tập suốt đời và trách nhiệm với người học.

Nâng chuẩn giảng viên không nên bị nhìn nhận như một “hàng rào kỹ thuật” hành chính, mà phải là bước chuẩn bị chiến lược cho tương lai quốc gia. Một hệ sinh thái đại học hiện đại cần biết đặt học vị đúng vị trí của nó: Quan trọng nhưng không cực đoan, cần thiết nhưng không duy ý chí, chuẩn hóa nhưng không đồng phục hóa. Điều đáng lo không phải là chúng ta nâng chuẩn quá nhanh, mà là chúng ta đã quen sống quá lâu với những chuẩn thấp nhưng lại ngại thay đổi.

GS.TS HUỲNH VĂN SƠN - Phó Chủ tịch Hội Tâm lý học Việt Nam