Chính sách
Quế Trà My sẽ thức dậy khi không còn… bán mình
Quế Trà My là một cái tên nổi tiếng đẹp và… thơm. Nhưng cái khó của nhiều đặc sản Việt Nam cũng bắt đầu từ chính sự nổi tiếng ấy: được nhắc đến rất nhiều, còn giàu lên từ sự nổi tiếng đó lại không dễ. Một vùng quế chỉ thật sự thức dậy khi cây quế không còn rời núi như một thứ nguyên liệu thô, còn phần giá trị lớn nhất thì nằm lại ở nơi khác.

Quế Trà My, nghịch lý từ những con số
Với Trà My, nghịch lý ấy hiện ra khá rõ. Theo các thông tin mới nhất, diện tích quế toàn vùng hiện vào khoảng 3.000ha, mới đạt khoảng 30% quy mô định hướng. Một số sản phẩm như tinh dầu quế, bột quế, hàng thủ công mỹ nghệ đã có OCOP. Nhưng chừng đó chưa đủ để nói vùng quế này đã bước sang một giai đoạn phát triển mới. Vấn đề không nằm ở chỗ có thêm bao nhiêu hecta quế hay thêm bao nhiêu sản phẩm OCOP. Nó là câu hỏi: Trà My đã giữ lại được bao nhiêu giá trị từ cây quế của mình?
Các con số nền càng cho thấy điều đó. Sau 7 năm trồng quế theo chỉ đạo của tỉnh cũ, diện tích quế Trà My mới đạt gần 2.800ha. Có hơn hơn 4.600 hộ dân tham gia trồng tại Nam Trà My, Bắc Trà My, Phước Sơn và Tiên Phước (cũ). Trong khi đó, mục tiêu từng đặt ra là phát triển ổn định vùng nguyên liệu khoảng 7.777ha vào năm 2025. Sau đó mở rộng lên 10.000ha trong giai đoạn 2025–2030.
Nhưng, những con số đó, có khiến người trồng quế sống tốt, gắn bó lâu dài với nghề không?
Điểm yếu của nhiều vùng đặc sản không nằm ở chỗ không có sản vật quý. Cái yếu nằm ở chỗ phần quý nhất thường rời khỏi địa phương quá sớm. Quế Trà My cũng đứng trước bài toán ấy. Bóc vỏ, bán thô, đi khỏi núi dưới dạng nguyên liệu sơ cấp. Hết. Phần giá trị lớn nhất rơi vào tay khâu chế biến, thương mại và phân phối ở nơi khác. Người trồng giữ lại công chăm sóc, công gìn giữ, công đợi cây lớn. Nhưng phần lợi nhuận dày hơn thì không chắc còn ở lại với vùng trồng. Đó là kiểu phát triển khiến một đặc sản nổi tiếng mãi loay hoay trong phận nguyên liệu.

Lãng phí tài nguyên đặc hữu
Rõ ràng, câu hỏi lớn không phải là trồng ít hay nhiều. Mà là chất lượng và giá trị, mới là thứ có được giử lại hay không?
Nếu chỉ bán quế như một loại vỏ cây thơm, Trà My sẽ mãi ở thế yếu. Nhưng nếu cây quế trở thành trung tâm của một hệ sinh thái kinh tế rộng hơn, thì là chuyện khác. Tinh dầu. Dược liệu. Sản phẩm chăm sóc sức khỏe. Hàng thủ công mỹ nghệ. Quà tặng. Du lịch trải nghiệm và kinh tế dưới tán rừng... Tất cả xâu chuỗi nhau, thì khi ấy quế mới trở thành hạt nhân của một chuỗi giá trị.
Vậy thì, đáp án cho giá trị của quế Trà My, đã rõ. Không phải là sản lượng đại trà. Đó là tính đặc hữu, chất lượng tinh dầu, chỉ dẫn địa lý và câu chuyện văn hóa. Nói ngắn hơn, quế phải được nhìn như một tài nguyên đặc hữu. Không đơn thuần xem đó là một loại lâm sản truyền thống.
Những tín hiệu đầu tiên của tư duy này đã có. Quế Trà My được cấp chỉ dẫn địa lý từ năm 2011. Một số sản phẩm quế ở Bắc Trà My đã đạt OCOP 3 sao, 4 sao. Năm 2025, từ nguồn khuyến công, một hợp tác xã tại địa phương được hỗ trợ công nghệ sản xuất hơn nửa tỷ đồng. Điều đó cho thấy tư duy chế biến sâu đã bắt đầu hình thành. Nhưng vài mô hình đơn lẻ chưa thể thay đổi số phận của cả một vùng nguyên liệu. Khi bài toán thị trường đủ mạnh, doanh nghiệp đủ bền và chiến lược đủ dài hơi chưa có lời giải, thì gian nan còn nguyên đó.
Cũng cần nhìn ở tầng sâu hơn: quế Trà My không chỉ là chuyện kinh tế, mà còn là chuyện giữ rừng. Nếu đi đúng hướng, cây quế không chỉ tạo thu nhập mà còn giữ đất, giữ cư dân, giữ rừng.
Vì thế, điều đáng lo nhất với Trà My không phải là cây quế mất giá trong một vụ. Điều đáng lo hơn là một vùng quế nổi tiếng vẫn mãi loay hoay trong phận nguyên liệu. Một vùng đất mang danh "Cao sơn ngọc quế", mà vẫn chủ yếu bán đi thứ sơ cấp nhất của mình, thì đó không còn là chuyện thị trường đơn thuần. Đó là sự lãng phí tiềm năng.

