Lập làng dưới bóng quế ngàn năm
Giữa đại ngàn Trà My (TP. Đà Nẵng) bao la, nơi sương lạnh vây hãm những đỉnh núi hoang sơ, chuyện lập làng của người Co, Ca Dong được viết bằng nhịp thở rừng và bước chân bền bỉ. Từ đó, kho tàng văn hóa rực rỡ bên dòng suối chưa bao giờ vơi ở vùng linh thiêng mệnh danh là thủ phủ “Cao sơn Ngọc Quế”, hiện ra.

Lập làng sau đỉnh núi
Câu chuyện về những bước chân mở đất đầu tiên thường được các già làng kể lại bên bếp lửa, bắt đầu từ nóc Xơ Rơ (xã Trà Đốc). Nơi ngày nay được xem là hình mẫu đẹp nhất của kiến trúc nhà sàn truyền thống người Ca Dong.
Giữa phong cảnh sơn thủy hữu tình, Xơ Rơ hiện lên với những mái nhà sàn mộc mạc san sát, gợi bao tứ thơ. Nhưng ít ai biết rằng, phía sau vẻ yên bình ấy là cả một huyền thoại bi tráng về cuộc sinh tồn, gắn liền với hành trình tìm ra loài quế Trà My quý hiếm.
Truyền rằng, từ thuở xa xưa, một nhóm người Ca Dong sinh sống khốn khó ven sông Tam Lang. Khi dịch bệnh tràn lan, mưa lũ triền miên bủa vây khiến đời sống kiệt quệ, cái bụng không lúc nào yên. Khổ lắm. Một vị cao niên uy tín đã quyết định dẫn dân làng mở cuộc thiên di đi tìm miền đất hứa, mong cầu một sự sống thuận lợi, sung túc hơn.
Ông hướng tầm mắt về phía mặt trời khuất núi. Nới đó có đỉnh cao bao năm mây phủ trắng xóa nhưng cây cối sừng sững sum sê, xanh ngắt, phóng đãng và yên bình. Ồ, đây rồi, một vùng đất lành mà thần linh ban tặng, ta sẽ lập làng!
Xơ Rơ, ngôi làng đầu tiên
Với quyết tâm sắt đá bắt gai mở lối, ông cùng trai tráng đã cắt rừng, vượt suối dữ, chinh phục những dốc đứng dựng đứng để chạm đến đỉnh núi bằng phẳng. Tại đây, khí trời dịu mát, họ sững sờ khi hít hà mùi hương thơm nồng nặc bốc lên từ những cánh rừng.

Họ ngỡ ngàng tìm thấy loài quế rừng quý hiếm, vỏ dày, tinh dầu đậm đặc vô đối. Cũng không ai nghĩ, phút gặp gỡ là là dấu tích khởi nguồn đánh dấu việc con người gắn bó thịt da với báu vật Trà My. Chính loài quế này, với hàm lượng tinh dầu hàng đầu Việt Nam, đã đưa vùng đất này trở thành kinh đô của “Cao sơn Ngọc Quế”.
Trong hành trình nghiệt ngã ấy, ai nấy đều kiệt sức, thân thể “xơ rơ” (rã rời), mặt mày mệt mỏi. Riêng vị cao niên dẫn đường, vì quá đuối sức nên tai đã "điết," không còn nghe được tiếng gió rú hay tiếng suối reo. Sau khi tìm ra vùng ngọc quế, ông đã trút hơi thở cuối cùng, hóa thân vào đất mẹ.
Để tri ân người mở lối, dân làng đã đặt tên đỉnh núi là núi Ông Điết và gọi ngôi làng lập nên là làng Xơ Rơ.
Ngọc quế dẫn lối hoàng kim rực rỡ
Nhờ báu vật trời ban ấy, các bản làng đã hưng thịnh lẫy lừng. Sức sống của loài “ngọc quế” đã kiến tạo nên một thời kỳ hoàng kim rực rỡ cho vùng Trà My. Ai cũng nhớ, những năm 80 của thế kỷ trước, hễ nói quế Trà My, là đi liền với chữ "giàu". Khi đó, vỏ quế Trà My được xuất khẩu với giá cao ngất ngưỡng, nứt tiếng khắp nơi.
Người dân ở các xã Trà Leng, Trà Vân, Trà Giáp, Trà Liên… kể lại rằng, thời ấy “bán một cây quế hơn mười năm tuổi là thu về số tiền mua được một cây vàng”. Cây quế không chỉ ủ ấm mái nhà mà còn giúp người vùng cao có của ăn của để, cuộc sống khấm khá chưa từng thấy.
Chính từ sự hoàng kim đó, vùng đất này đã nảy sinh ra những thợ kẹp quế chuyên nghiệp, chuyên chế biến quế kẹp. Đây là mặt hàng giá trị nhất, chỉ được làm thủ công từ những bàn tay lành nghề, tỉ mỉ, được dân làng nể trọng như những nghệ nhân thực thụ.
Sự gắn bó ấy định hình nét đặc thù riêng của mỗi ngôi làng vùng cao Trà My. Tất cả tạo nên bức tranh văn hóa độc đáo. Trong những năm tháng kháng chiến, chính những ngôi làng này đã trở thành pháo đài quật cường, dưới sự chở che của mẹ thiên nhiên và thần quế thiêng liêng.
Một thuở bị lãng quên
Khi bản làng định hình bền vững, người Co và người Ca Dong lại miệt mài bồi đắp cho đời sống tâm linh, văn hóa của mình thêm rực rỡ, lấy hương quế Trà My làm hồn cốt.

Tiếng trống chiêng, điệu hát dân ca hay các nghi lễ cưới xin, cúng tế đều thành lời khấn cổ vang vọng, nài xin sự che chở của thần Quế, thần Núi. Họ tin rằng, mỗi máng nước đầu làng, mỗi gốc quế cổ thụ Trà My đều có linh hồn che chở.
Chính niềm tin ấy giúp họ không chỉ giữ gìn truyền thống mà còn sáng tạo nhạc cụ độc đáo như đàn đá, kèn lá từ lao động sản xuất, biến âm thanh núi rừng thành tiếng lòng dân tộc.
Tuy nhiên, số phận cây quế Trà My cũng chịu nhiều thăng trầm nghiệt ngã. Từ đầu những năm 90 của thế kỷ trước, báu vật đại ngàn bị “thất sủng”.
Thị trường xuất khẩu ngưng trệ, cuộc sống người trồng quế rơi vào khốn khó. Đau lòng hơn, chất lượng quế Trà My bị giảm sút nghiêm trọng do việc du nhập nguồn cây giống không bảo đảm chất lượng từ phía Bắc vào trồng đại trà.
Thị trường tiêu thụ bị thu hẹp dần, thương hiệu quế Trà My bản địa bị lãng quên. Ở nhiều nơi, người dân đành chặt bỏ hàng héc-ta quế quý để trồng keo và các cây ngắn ngày khác, để trang trải cuộc sống qua ngày.

Chính trong lúc cây quế bản địa bị quên lãng ngay trên chính quê hương, những người thợ chuyên làm quế kẹp Trà My, vốn nắm giữ bí quyết làm cho cây quế có giá trị cao thực sự, đành phải rời làng tìm đường mưu sinh.
Suốt hơn 30 năm qua, những nghệ nhân này, như nhóm thợ ông Nguyễn Văn Đường hay thợ kẹp Triệu Lành, đã lặn lội đến tận thủ phủ quế Văn Yên, Yên Bái (Lào Cai) để hành nghề kẹp quế số 3 thương phẩm. Tại đây, họ được các chủ doanh nghiệp lớn xem như nghệ nhân thực thụ, được lo chi phí, bố trí ăn ở chu đáo và trả công rất cao. Bởi lẽ, chỉ có những người thợ đến từ Trà My thì mới làm cho cây quế ở miền Bắc có giá trị thật sự. Nếu không có sản phẩm quế kẹp thì giá trị cây quế rất bình thường. Sự tỉ mỉ trong khâu tề vỏ, tạo số 3 đều đặn, giữ tinh dầu lâu dài của thợ Trà My đã nâng tầm quế miền Bắc. Trong khi cây quế ở quê nhà vẫn chật vật phục hồi.
Nhưng lòng người vùng cao không bao giờ quên ơn đại ngàn. Trong bối cảnh bấp bênh, ở những vùng “thủ phủ” quế xưa như Trà Leng, Trà Vân, Trà Giáp… người dân vẫn kiên trì, lặng lẽ giữ được những vườn quế bản địa vài chục năm tuổi.
"Trả lại tên cho em"
Và đây chính là nguồn hạt giống quý giá, tốt nhất để ươm và khôi phục lại thương hiệu Quế Trà My. Nhận thức được giá trị cốt lõi, chính quyền địa phương hiện nay đã quyết tâm vào cuộc khôi phục thương hiệu “Hương quế Trà My”.
Họ khuyến cáo người dân loại dần các giống quế du nhập và nhân rộng nguồn gien quý Trà My bản địa. Việc Cục Sở hữu trí tuệ cấp Giấy chứng nhận đăng ký chỉ dẫn địa lý “Trà My” vào năm 2011 đối với sản phẩm quế vỏ đã tạo cơ hội mới để khôi phục cây quế và danh tiếng “Cao sơn Ngọc quế”.
Già làng Hồ Văn Dinh ở làng Tam Lang chia sẻ đầy tự hào bằng chất giọng trầm ấm, rằng dân làng ông vẫn giữ nguyên hồn cốt Ca Dong thông qua việc trồng quế Trà My bản địa, làm lúa nước, giữ rừng và nguồn nước.
Từ khi có ánh sáng cách mạng, người dân lấy họ Hồ thể hiện lòng biết ơn, xây dựng đời sống văn minh, bỏ hủ tục. Nhưng bà con, “cái bụng” vẫn giữ chặt hồn cốt dân tộc, tích cực khôi phục các vườn quế cổ. Bởi ở họ, chuyện lập làng huyền thoại thuở xưa là lời nhắc chớ quê nguồn cội.
Tại thôn Làng Gạch (Trà Liên), già làng Đinh Văn Hải cũng kể rằng người Co thường lấy họ của các vị lãnh tụ, anh hùng uý tín để răn dạy con cháu học tập để phụng sự tổ quốc. Nhưng gốc rễ về tín ngưỡng, cây nêu, điệu múa... và tình yêu với quế Trà My, bà con vẫn giữ nguyên.

Điều đáng trân quý nhất hôm nay ở vùng “Cao sơn Ngọc Quế” là tinh thần “gạn đục khơi trong.” Các hủ tục tốn kém đã được hạn chế, chỉ làm tượng trưng. Già làng Nguyễn Văn Đông ở làng Boa (Trà Giáp) tâm niệm, dân làng đội ơn suối Boa, biết ơn ngọn núi nên luôn nhắc nhở giữ rừng, giữ nguồn nước và trồng quế Trà My bản địa để đoàn kết, sống ấm no.
Ông khẳng định: “Ở miền núi phá rừng thì nghiệp núi sẽ trả đũa, thiên tai sạt lở sẽ đến nhanh lắm”. Vì vậy, họ đơn giản hóa các nghi lễ kiêng cử dài ngày để con cháu đi học. Bớt kiêng cử để người lớn lên rẫy chăm lo cây trồng, vật nuôi, khôi phục cây quế. Hiện nay, chính quyền địa phương đang tích cực triển khai nhiều cơ chế như cấp cây giống, hỗ trợ vốn, cấp đất… để khuyến khích đồng bào khôi phục cây quế tại các nóc làng định cư lâu đời.
Hành trình lập làng từ những bước chân rã rời và hành trình phục hồi “Ngọc quế Trà My” năm xưa giờ đã nở hoa trên những đồi quế ngát hương bản địa, nứt tiếng về hàm lượng tinh dầu tốt. Cây quế trở thành nguồn thu nhập chính, báu vật được người Co, Ca Dong và cả người Mơ Nông gìn giữ như tín ước với Giàng.


