Emagazine

Emagazine

Tuổi hưu xa lạ |Bài 2: Lao động cao tuổi - trụ cột lưng còng của nghề muối 400 năm

TRỊNH AN • 19/04/2026 06:14

LTS: Chúng ta đã quen với những câu chuyện về làng quê thiếu người trẻ, về những ngành nghề không còn người kế thừa. Trong đó, người cao tuổi thường được nhìn như một giải pháp tạm thời - một lực lượng cần được thay thế.

Nhưng thực tế, cả thành thị lẫn nông thôn, lao động cao tuổi không còn là ngoại lệ. Họ đang là một phần vận hành nền kinh tế. Khi thực tế này chưa được nhìn nhận đúng, mọi chính sách cũng khó đi đến tận cùng. Không coi đây là một trạng thái bình thường, thì cũng không thể thiết kế một môi trường làm việc phù hợp, công bằng và hiệu quả cho họ.

Chuyên đề 'Tuổi hưu xa lạ' đặt cái nhìn cận cảnh vào công việc của những người được xem là 'đang tuổi hưu', đặt họ trở lại vị trí xứng đáng trong đời sống kinh tế - không phải như một giải pháp thay thế, mà như một lực lượng cần được nhìn nhận, tổ chức và khai thác đúng cách.

Bài 1: Những ngôi làng... bạc

cover Kinh tế bạc - Nongthonviet.vn

Bài 2: Những trụ cột còng lưng của nghề muối Quỳnh Phú

Người trẻ lần lượt rời bỏ làng đi tìm kế sinh nhai thay vì kế nghiệp nghề truyền thống của cha ông để lại, khiến nhiều ngôi làng ở miền Trung chỉ còn lại người già, trẻ nhỏ. Trên ruộng, góc vườn vẫn miệt mài bao mái tóc phai sương cặm cụi mưu sinh, giữ nghề truyền thống, như vệt loang buồn về cơm áo đã đành, mà ở chiều ngược lại, đó là dấu chấm than cho sự bền bỉ, đau đáu với nghề, muốn lưu giử tinh hoa cho mai sau.

Đầu bạc giữa đồng trắng

Giữa trưa, cánh đồng muối Quỳnh Phú (tỉnh Nghệ An) trắng lóa như tấm gương khổng lồ hắt ngược ánh nắng lên trời. Gió biển thổi rát mặt, mặn chát.

Giữa cái nóng như thiêu như đốt ngày đầu Hè, ông Bùi Như Lạc (65 tuổi, xóm Tân Thắng, xã Quỳnh Phú) vẫn lom khom trên ruộng, thoăn thoắt kéo cào, gom từng vạt muối kết tinh. Những hạt muối trắng lấp lánh dưới nắng, đẹp như pha lê. Nhưng để có được chúng là cả một quá trình “vắt mồ hôi đổi hạt”. “Phải ra đồng lúc nắng gắt nhất. Từ 11h - 3h chiều, nắng càng to thì muối mới kết tinh nhanh”, ông nói, mắt vẫn không rời ruộng. Mồ hôi trên khuôn mặt đen bóng của lão diêm dân này liên tục đọng thành từng giọt, nhỏ tong tong xuống, mất hút vào ruộng cát.

Phần lớn người bám trụ lại với nghề muối ở Tân Thắng đều đã ngoài 50 - 60 tuổi.
Phần lớn người bám trụ lại với nghề muối ở Tân Thắng đều đã ngoài 50 - 60 tuổi.

Hơn nửa thế kỷ gắn bó với nghề truyền thống cha ông để lại, ông Lạc bảo rằng ở vùng đất này, chính sự khắc nghiệt của thiên nhiên lại là điều kiện sống còn để nghề muối tồn tại. Nắng càng gắt, muối càng nhanh kết tinh. Nhưng cũng chính cái khắc nghiệt ấy đã khiến lớp trẻ dần rời đi. Cánh đồng muối chỉ còn những bước chân chậm rãi của người già. Từ khi mới gần 10 tuổi, ông đã theo cha mẹ ra đồng, bắt đầu cào muối. Đây công việc mà đứa trẻ nào ở làng muối cũng từng trải qua.

Lớn lên, khi đủ sức khỏe và kinh nghiệm, ông mới có thể đảm đương trọn vẹn các công đoạn làm muối phơi cát truyền thống. Là thế hệ thứ tư trong gia đình theo nghề, nhưng đến nay, cả 4 người con của ông đều lần lượt rời quê mưu sinh, không ai nối nghiệp.

Quệt vội những giọt mồ hôi lăn dài trên mặt, bà Nguyễn Thị Cúc (64 tuổi, vợ ông Lạc) cho biết, gia đình có 5 dát muối (mỗi dát 150m²), nhưng sức của hai vợ chồng già chỉ kham nổi 3 dát, phần còn lại đành bỏ không. Công việc nặng nhọc, thu nhập lại bấp bênh khiến lớp trẻ dần rời xa. Trên cánh đồng giờ chỉ còn lại những dáng người còng xuống theo năm tháng. “Hai vợ chồng làm quần quật cả ngày cũng chỉ được một tạ muối. Người ta nói vui làm muối một ngày ăn cả năm, nhưng với giá như bây giờ thì diêm dân không đủ sống. Vậy nên chúng tôi cũng động viên con gắng kiếm cái việc chi đó ổn định hơn mà làm”, bà Cúc thở dài.

Đã ngoài 70 tuổi, vợ chồng bà Nguyễn Thị Nhàn (xóm Tân Thắng, xã Quỳnh Phú) vẫn ngày ngày ra ruộng muối. Dưới cái nắng chang chang, hai thân hình gầy gò lặng lẽ di chuyển trên nền cát nóng bỏng, chậm rãi xáo đất, rải phơi đất, lọc nước, phơi nước rồi thu muối. Quần quật suốt một ngày dưới nắng, số tiền họ kiếm được chỉ khoảng 150.000 - 200.000 đồng. Những hôm trời bất chợt đổ mưa, toàn bộ công sức coi như tan theo nước, trắng tay.

Mất ngủ với nghề

Tại Nghệ An, nghề làm muối kéo dài từ tháng 3 đến tháng 9 hàng năm, khi nền nhiệt cao. Ông Bùi Xuân Điện - Giám đốc Hợp tác xã Muối Thắng Lợi (xã Quỳnh Phú) cho biết, xã này hiện vẫn còn hơn 400ha sản xuất muối phơi cát thủ công, nghề truyền thống đã tồn tại hơn 400 năm. Riêng HTX Muối Thắng Lợi có 830 xã viên, quản lý 113ha, mỗi năm cho ra khoảng 11.000 - 13.000 tấn muối thành phẩm. Thế nhưng, đằng sau những con số ấy là một thực tế đáng lo khi ruộng muối bị bỏ hoang ngày một nhiều, lực lượng lao động ngày càng già hóa. Nghề muối vốn đã vất vả, lại thêm giá bán thấp khiến diêm dân càng thêm chán nản. Nhưng nghịch lý là, nếu bỏ nghề thì hàng trăm hecta ruộng muối cũng không biết chuyển đổi sang cây trồng nào khác.

a1.jpg
Ông Bùi Như Lạc cùng vợ trên cánh đồng muối.

Là giám đốc HTX có diện tích sản xuất muối lớn nhất miền Bắc, nhưng điều khiến ông trăn trở không phải là sản lượng, mà là con người. “Lao động giờ hầu hết đều ngoài 50 tuổi cả rồi”, ông nói, ánh mắt hướng ra cánh đồng loang loáng nắng, nơi những dáng lưng còng xuống vẫn đang lặng lẽ làm việc. Không chấp nhận để nghề muối mai một, ông Điện đã nhiều lần rời quê, lặn lội đến các làng muối trên khắp cả nước để học hỏi. Ông tìm gặp các nghệ nhân, các cơ sở chế biến, mong tìm ra một hướng đi khác cho hạt muối quê mình.

Đầu năm 2025, từ nguồn nguyên liệu sẵn có, ông bắt đầu chọn lọc những mẻ muối phơi cát đã “chín” ít nhất 6 tháng, đưa về hợp tác xã để chế biến. Những hạt muối sau đó được hầm, om liên tục trong 17 tiếng. Khi thành phẩm, muối có màu trắng như tuyết, hạt mềm, vị mặn dịu và giữ được nhiều khoáng chất. Mỗi tháng, HTX sản xuất hơn 20 tấn muối hầm. Sản phẩm không chỉ giúp tiêu thụ lượng muối tồn đọng cho diêm dân mà còn tạo ra mức giá ổn định hơn so với muối thô, phần nào giảm bớt áp lực mưu sinh trên những cánh đồng muối. Thế nhưng, với ông Điện, chừng đó vẫn chưa đủ để yên tâm. Nỗi lo về sự mai một của nghề muối phơi cát truyền thống vẫn thường trực. “Ít nhất muối phải bán được trên 2.000 đồng/kg thì người dân mới có thể bám trụ với nghề”, ông trăn trở.

A2 (1)
A2 (1)

Chỉ còn “mẹ già bên khung cửi”

Không chỉ riêng nghề muối, tình trạng “già hóa lao động” đang diễn ra rõ nét ở nhiều làng quê Nghệ An. Nhiều làng nghề truyền thống dần vắng bóng người trẻ, nhường lại cho những mái đầu bạc lặng lẽ bám nghề trong nỗi lo mai một.

Tại bản Hoa Tiến (xã Châu Tiến) - cái nôi của nghề dệt thổ cẩm người Thái, tiếng khung cửi vẫn đều đặn vang lên mỗi ngày, nhưng người ngồi bên khung đa phần đã lớn tuổi. Bà Sầm Thị Bích, Chủ nhiệm HTX Làng nghề thổ cẩm Hoa Tiến cho biết, từ nhỏ, phụ nữ Thái nào cũng được mẹ truyền dạy cách dệt vải, thêu thùa để tự làm trang phục và vật dụng trong gia đình. Nghề dệt từng là một phần không thể thiếu trong đời sống cộng đồng. Thế nhưng, nhịp sống hiện đại đã kéo lớp trẻ rời xa khung cửi. Thu nhập thấp, sản phẩm thủ công khó cạnh tranh với vải công nghiệp khiến nghề ngày càng kén người theo.

a3.jpg

Trong dòng chảy hội nhập, lao động trẻ được ví như “nguồn sinh khí” có thể thổi làn gió mới vào các làng nghề truyền thống. Nhưng ở nhiều vùng quê Nghệ An, nguồn sinh khí ấy đang dần cạn. Sự vắng bóng của lớp trẻ, đặc biệt là lao động có tay nghề, đang trở thành khoảng trống lớn, khiến không ít làng nghề chững lại, sản phẩm khó cạnh tranh và đối mặt nguy cơ mai một. Tại các làng nghề mây tre đan, không khó để bắt gặp cảnh những đôi tay già nua thoăn thoắt vót tre, đan lát dưới hiên nhà, trong khi bóng dáng thanh niên gần như vắng hẳn. Với mức thu nhập chỉ khoảng 4 - 6 triệu đồng mỗi tháng, công việc này chủ yếu phù hợp với người lớn tuổi, tranh thủ lúc nông nhàn kiếm thêm thu nhập. Còn với người trẻ, chừng đó là quá ít để níu chân họ ở lại.

Nhưng nếu chỉ dừng ở nỗi lo “thiếu người trẻ”, câu chuyện sẽ dễ trượt về một lối nghĩ quen thuộc: coi những người ở lại như phần còn lại, như một giải pháp tình thế để níu giữ nghề. Thực ra, chính họ đang giữ cho sợi dây nghề nghiệp không đứt đoạn, cho kỹ năng tích lũy qua nhiều thế hệ, cho một hệ giá trị mà thị trường chưa kịp định danh.

Dan thủ công mỹ nghệ
Nhiều làng nghề mây tre đan ở Nghệ An chỉ còn phụ nữ lớn tuổi theo nghề.

Ở góc độ đó, lao động cao tuổi cần được nhìn nhận như một nguồn lực có thật – với kinh nghiệm, kỷ luật và độ bền mà không lớp lao động nào có thể thay thế ngay. Vấn đề không chỉ là “giữ nghề cho họ”, mà là tạo ra cách để họ tiếp tục có ích một cách xứng đáng: được trả công đúng giá trị, được tổ chức lại sản xuất, được đặt vào một chuỗi giá trị mới thay vì đứng ngoài lề của nó.

Khi một xã hội bắt đầu già đi, cách nó đối xử với những người lao động lớn tuổi cũng chính là thước đo cho độ chín của nền kinh tế. Và có lẽ, thay vì chỉ hỏi “bao giờ có người trẻ quay về”, đã đến lúc đặt một câu hỏi khác: làm thế nào để những người đã ở lại không phải gồng mình giữ nghề trong lặng lẽ, mà có thể làm việc với sự được nhìn nhận, được tôn trọng – như những người đang thực sự tạo ra giá trị.

TRỊNH AN

TRỊNH AN