Cafe cùng NTV

Cafe cùng NTV

Giáo sư Chung Hoàng Chương: Trầm tích Mekong và giấc mơ đồng bằng

Ngọc Phương 20/02/2026 05:10

Khi năm mới mở ra như con nước đầu mùa, người ta thường nghĩ về sự sinh sôi, về những mầm xanh đang lặng lẽ cựa mình dưới lớp phù sa. Với Giáo sư Chung Hoàng Chương - người con của miền Tây có hơn nửa đời bôn ba nơi xứ người - Mekong không chỉ là một dòng sông địa lý, mà là mạch nguồn của tái sinh.

Giáo sư Chung Hoàng Chương
Giáo sư Chung Hoàng Chương

Giáo sư Chung Hoàng Chương hiện là cố vấn cho Viện Mekong (Đại học Cần Thơ), chuyên gia cao cấp về tiểu vùng Mekong cho tổ chức quốc tế National Geographic và từng giảng dạy tại Khoa Á Mỹ học, Đại học Tiểu bang San Francisco (Mỹ).

Trong cuộc trò chuyện với Tạp chí Nông thôn Việt, từ góc nhìn của mình, ông chia sẻ về ảnh hưởng của Mekong lên văn hóa, tín ngưỡng, kinh tế - và về cách chúng ta nên ứng xử với dòng sông, với đồng bằng để gìn giữ cả sự thịnh vượng lẫn sự an lành của tâm hồn. Một tâm tình bộn bề tình yêu quê hương, bằng tri thức tích lũy từ nhiều năm nghiên cứu, và bằng niềm hy vọng không tắt dành cho tương lai ĐBSCL.

DÒNG SÔNG SINH SÔI, DÒNG SÔNG CHỮA LÀNH

Thưa Giáo sư, ông nói Mekong là dòng sông có giá trị “sinh sôi”, vậy thì đâu là tham chiếu khoa học lẫn thực chứng đời sống?

GS. Chung Hoàng Chương: Mekong là một dòng sông đặc biệt. Nếu tính theo diện tích lưu vực thì nó đứng hàng thứ 12 thế giới, nhưng nếu nhìn dưới góc độ sinh thái - tức khả năng nuôi dưỡng sự đa dạng sự sống - thì nó đứng nhì thế giới - chỉ sau lưu vực Amazon. Lưu vực Mekong rộng 750.000km², đi ngang qua 6 quốc gia. Mỗi năm có một mùa mưa kéo dài 4 - 6 tháng, nước dâng đều đặn như nhịp điệu không bao giờ sai hẹn. Người dân sống dọc theo dòng sông đã quen với sự lên xuống này, quen đến mức họ tổ chức đời sống theo nước: làm nhà, đóng thuyền ghe, canh tác, đánh bắt...

Từ thượng nguồn đi xuống, địa hình thay đổi liên tục. Ở vùng Vân Nam (Trung Quốc), độ dốc lớn khiến nước chảy rất mạnh, người ta xây hàng loạt thủy điện. Nhưng đến khi xuôi dần xuống thì đời sống nông nghiệp hiện ra, các tộc người sống chan hòa với nhau, vừa trồng trọt vừa đánh bắt, nhà cửa là nhà sàn, nếp sống du canh du cư theo nhịp thiên nhiên.

Đặc biệt, khi tới Siphandone (Lào), sông Mekong bị chắn dòng bởi hai thác nước khổng lồ kéo dài hàng chục kilômét là Khone Phapheng và Somphamit, tạo nên vùng ngập nước mênh mông điểm xuyết 4.000 hòn đảo lớn nhỏ. Cảnh quan độc đáo giữa thác ghềnh hùng vĩ và những khoảng nước tĩnh lặng biến Siphandone thành một trong những “thiên đường” du lịch hấp dẫn nhất của Lào. Người dân ở đây lại có phương pháp bắt cá khác: họ dùng các loại bẫy đặc biệt để bắt những loài cá khổng lồ như cá tra dầu, có con nặng đến 300kg.

Mưu sinh trong mùa lũ ở ĐBSCL. Ảnh Báo Lao Động
Mưu sinh trong mùa lũ ở ĐBSCL. Ảnh: Báo Lao Động

Tất cả những điều ấy cho thấy Mekong sinh sôi bằng chính sự thay đổi của nó: địa hình thay đổi khiến dòng chảy thay đổi, từ đó sinh vật thay đổi, và cuối cùng là con người thay đổi. Đó là một hệ sinh thái vận hành như một bản giao hưởng dài hàng nghìn năm.

Không đâu đẹp bằng quê mình! Đó là “chứng” ở những đứa con, nhất là khi sống cảnh xa quê. Khi ông nói về “dòng sông chữa lành”, liệu có thoát được tình riêng đó?

GS. Chung Hoàng Chương: Với tôi, đó là một thứ tình cảm rất riêng, rất sâu. Tôi là người con của đồng bằng, nhưng vừa lớn lên thì cha mẹ đã gửi lên thành phố học. Mười bảy tuổi rời Việt Nam, rồi năm mươi năm ở nước ngoài. Đến lúc quay về, đứng trước con sông Tiền quê ngoại lần đầu tiên sau hơn nửa đời người, tôi thấy trong lòng nảy sinh một tình yêu to lớn.

Từ khoảnh khắc đó đến nay gần hai mươi năm, tình yêu dành cho dòng sông trong tôi vẫn còn nguyên vẹn. Tôi hay đùa với mọi người rằng nó “nồng cháy cỡ 98 độ, còn cao hơn độ cồn”, nhưng thật sự là như vậy.

Và tôi vẫn thường nói vui: “Ngày nào còn leo lên ghe được thì tôi còn đi”. Đi để nhìn cửa Cung Hầu, Hàm Luông, Trần Đề… Đi để thấy những điều đặc biệt chỉ Mekong mới có.

Rừng tràm Trà Sư. Ảnh Khu Du lịch Sinh thái Rừng tràm Trà Sư
Rừng tràm Trà Sư. Ảnh: Khu Du lịch Sinh thái Rừng tràm Trà Sư

Nước như máu, đi suốt một đời người đồng bằng. Rõ ràng đây là yếu tố văn hóa...

GS Chung Hoàng Chương: ĐBSCL không chỉ giàu phù sa, mà còn giàu các giá trị tinh thần. Những tôn giáo nội sinh lành hiền, hướng thiện, dựa vào sự điều hòa cùng thiên nhiên như Bửu Sơn Kỳ Hương, Tứ Ân Hiếu Nghĩa… đã giúp người dân nơi đây vượt qua thời chiến tranh gian khổ, những giai đoạn bị giằng xé.

Đó cũng là cốt cách hành xử của người miền Tây - một phần rất quan trọng của “sự chữa lành” mà tôi muốn nói tới: nước đem lại sự bình an, còn niềm tin thì giúp con người đứng vững trong những biến động.

Bây giờ nhiều khu nghỉ dưỡng cũng bắt đầu đưa yếu tố nước vào thiết kế: tắm sông, tắm hồ, những không gian chỉ để nghe tiếng nước. Điều đó rất phù hợp với ĐBSCL. Khi trở lại với tiếng nước, hơi nước, cảnh quan sông rạch quen thuộc, con người được hồi phục theo cách tự nhiên nhất.

Và tôi nghĩ, việc gìn giữ văn hóa sông nước Nam Bộ không chỉ là bảo tồn một di sản. Đó còn là cách giúp mỗi người tìm lại hạnh phúc trong những điều rất đỗi quen thuộc quanh mình.

Xem thêm: Chợ nổi Cái Răng sẽ đi về đâu?

Làng nổi Tân Lập. Ảnh Hà Nội Mới
Làng nổi Tân Lập. Ảnh: Hà Nội Mới

HIỂU NƯỚC ĐỂ GIỮ TƯƠNG LAI CỦA ĐỒNG BẰNG

Bây giờ liên tục xuất hiện từ khóa “thuận thiên”, như là triết lý thời biến đổi khí hậu. Nó như sự hốt hoảng, tôi cho là vậy, khi biết mình đã quá đà, cưỡng cầu vô lý để rồi lâm nguy, nên tìm cách quay lại. Thế nhưng, bao thế hệ người miền Tây đã sống dựa vào trời - đất, hành xử hợp lẽ với tự nhiên như phản xạ không điều kiện mà không cần nói phải thuận này thuận kia. Tức là họ hiểu sâu sắc nơi họ an trú, hiểu mình nên và không nên làm gì…

GS. Chung Hoàng Chương: Đúng vậy. “Thuận thiên” không phải điều gì mới. Nó chỉ bị lãng quên một thời gian vì chúng ta mải theo đuổi những giải pháp can thiệp mạnh vào tự nhiên.

Hệ thống thủy lợi miền Nam rất khác miền Bắc. Miền Bắc đắp đê để chặn nước. Miền Nam điều phối nước bằng hệ thống kênh rạch - có kênh giữ nước, có kênh thoát nước, nhờ vậy mà sinh ra vô số phương tiện đi lại: ghe đục để chứa nước và nuôi cá, ghe bầu với chiếc bẹo để buôn bán, ghe dùng trong lễ hội, đò ngang, đò dọc… Con người luôn sống theo nhịp lên xuống của con nước.

Và điều quan trọng là đồng bằng có hơn 2.500 dòng chảy lớn nhỏ. Mỗi dòng chảy là một câu chuyện văn hóa, một cách sống, một sự thích nghi. Nếu hiểu được điều đó, chúng ta sẽ hiểu rằng thuận thiên không phải lý thuyết, mà là thực tiễn hàng trăm năm của người miền Tây.

Khi chảy vào lãnh thổ Việt Nam, sông Mekong chia làm hai nhánh sông Tiền, sông Hậu và đổ ra biển qua 9 cửa.
Khi chảy vào lãnh thổ Việt Nam, sông Mekong chia làm hai nhánh sông Tiền, sông Hậu và đổ ra biển qua 9 cửa.

Nhiều dự báo cho rằng đến 2050 thì 1/3 đồng bằng có nguy cơ sụt lún. Nước nuôi đồng bằng, nhưng nước cũng đang đe dọa đến sự tồn vong của đồng bằng. Liệu đồng bằng có còn “cửa” hy vọng?

GS. Chung Hoàng Chương: Nếu 1/3 đồng bằng sụt lún, tức là khoảng 6 triệu dân sẽ phải di dời. Đó không chỉ là vấn đề địa lý hay nông nghiệp, mà là vấn đề xã hội, văn hóa, an sinh.

Nhưng tôi không bi quan. Tôi lạc quan vì đồng bằng còn bốn điểm tựa:

Thứ nhất là kiến thức bản địa: Người dân biết xem con nước, biết dựa vào hành vi con vật để dự đoán thời tiết, biết sử dụng hệ thống dẫn thủy truyền thống. Kiến thức này hiệu quả nhưng ít được nói tới. Nếu được tổng hợp và kiểm chứng bằng khoa học, nó sẽ rất hữu hiệu.

Thứ hai là khoa học hiện đại: Hiện đã có những máy móc, phương pháp đo đạc độ mặn, theo dõi sâu bệnh, cảm biến đặt ngay trong ruộng. Tất cả đều đang giúp nông nghiệp chính xác hơn.

Thứ ba là giáo dục: Những giáo trình trong trường đã bắt đầu nói rõ về biến đổi khí hậu, nguy cơ với đồng bằng. Điều này quan trọng vì nó chuẩn bị tâm thế cho thế hệ mới.

Thứ tư là sự bền bỉ của người dân đồng bằng: Đó là điều làm tôi kính trọng nhất. Trong điều kiện vô cùng khó khăn, họ vẫn bám đất, bám nước, và sáng tạo ra những cách sống rất hiệu quả.

Nếu bốn yếu tố này kết hợp, tôi tin đồng bằng có thể xoay chuyển theo hướng thuận thiên.

Vùng canh tác ở ĐBSCL nhìn từ trên cao. Ảnh Đại Đoàn Kết
Vùng canh tác ở ĐBSCL nhìn từ trên cao. Ảnh: Đại Đoàn Kết

Từ góc nhìn khoa học, ông đánh giá ra sao về những can thiệp hành chính lẫn khoa học vào Mekong lâu nay?

GS. Chung Hoàng Chương: Theo góc nhìn của tôi, từ khi về nước đến nay cũng gần 20 năm, những quan sát cho thấy các hạn chế, vướng mắc trong quá trình phát triển vùng đồng bằng xuất phát từ nhiều nguyên nhân: biến đổi khí hậu, khai thác quá mức, cũng như tư duy chậm thay đổi. Đến năm 2017, khi Nghị quyết 120 được triển khai thì dịch Covid-19 lại làm gián đoạn. Đến hiện tại, chúng ta mới có thể áp dụng một số mô hình khá hiệu quả, trong đó có mô hình “Thuận Thiên”.

Việc sáp nhập các tỉnh cũng phù hợp với xu hướng phát triển liên vùng, mở ra cơ hội cho những mô hình quy mô lớn hơn, với tầm nhìn rộng hơn. Tôi cho rằng sự phối hợp giữa các ban ngành hiện nay đã thuận lợi hơn nhiều so với trước đây, khi phải làm việc với 13 tỉnh riêng lẻ. Nhờ đó, tốc độ phát triển có thể nhanh hơn, các quyết định cũng có thể được thực thi kịp thời trong bối cảnh biến đổi khí hậu diễn biến phức tạp.

Tôi mong các cấp lãnh đạo nhìn nhận tính cấp bách của vấn đề, sớm áp dụng mô hình phối hợp giữa khoa học và kiến thức bản địa, để hỗ trợ người dân triển khai mùa vụ phù hợp với yêu cầu thời tiết, đồng thời thay đổi phương thức canh tác phù hợp với từng vùng sinh thái khác nhau - từ nước ngọt, nước lợ đến nước mặn.

Xem thêm: 'Đau răng' ở chợ nổi Cái Răng

ĐBSCL vào mùa gặt. Ảnh VnEconomy
ĐBSCL vào mùa gặt. Ảnh VnEconomy

Trong những chuyến thực địa gần đây, có mô hình nào khiến ông tin rằng đồng bằng vẫn có thể tự chữa lành?

GS. Chung Hoàng Chương:
Có nhiều mô hình cho tôi hy vọng. Như Cồn Chim (Trà Vinh) - nơi có khoảng 65 hộ dân. Trước đây chủ yếu trồng lúa. Giờ họ vừa làm ruộng, làm vườn, nuôi cá, vừa làm du lịch sinh thái. Rất hiệu quả. Đây là hình mẫu có thể nhân rộng ra các cồn, cù lao xung quanh.

Hay vùng Tứ giác Long Xuyên, có nơi 1 năm ngập 4 - 6 tháng. Khi nước lên, người dân mướn đất để tháo nước vào. Cá từ sông sẽ theo vào ruộng như cá ngát, rô phi, trê vàng…Trong 3 - 4 tháng, nước chỉ cao tới đầu gối nhưng cá sinh sản rất nhanh. Khi nước rút, những cánh ruộng trở thành đìa chứa đầy cá. Một hộ chỉ cần mướn 10 công đất hết 200.000 đồng mà thu được hàng tấn cá là chuyện hoàn toàn có thể xảy ra. Trước khi nước rút hẳn, họ quây một phần ruộng lại trồng sen. Sen giữ nước, lọc bùn, và tạo thêm nguồn thu.

Đó chính là thuận thiên trong hành động.

Du khách chèo xuồng tham quan rừng tràm Trà Sư (An Giang). Ảnh Thanh Niên
Du khách chèo xuồng tham quan rừng tràm Trà Sư (An Giang). Ảnh: Thanh Niên

Thưa ông, người trẻ đồng bằng bỏ xứ ra đi rất đông, để lại bờ xôi ruộng mật không ai nối nghiệp. Đó không chỉ là chuyện đứt mạch áo cơm ở quê nhà, mà sống với đất chính là nối mầm văn hóa, để gương mặt đồng bằng không mất đi. Ông cũng là người từng phải xa quê, nhưng có lẽ lúc đó không phải như bây giờ. Theo ông, để giữ người trẻ ở lại với đồng bằng, điều quan trọng nhất là gì?

GS. Chung Hoàng Chương: Tôi nghĩ quan trọng nhất là giáo dục và nhận thức.

Có những báo cáo cho thấy trình độ giáo dục của người dân đồng bằng thấp hơn mức trung bình quốc gia. Vì vậy cần nâng cao tay nghề, mở rộng giáo dục nghề nghiệp.

Điều tôi cho rằng cần thay đổi là cách nhìn nhận về bằng cấp. Người trẻ có thể học nghề 2 năm, sau đó những tín chỉ ấy phải được công nhận để học tiếp lên 4 năm đại học, rồi 8 năm thạc sĩ, tiến sĩ nếu họ muốn. Sự uyển chuyển này rất quan trọng - để họ thấy có lộ trình dài hạn chứ không bị kẹt trong lựa chọn “chỉ học nghề hoặc chỉ học đại học”.

Điểm yếu nhất hiện nay của ĐBSCL không phải đến từ thiên nhiên hay thị trường mà là nhận thức. Bà con nghe nói nhưng chưa thấy được mô hình cụ thể để tin. Vì vậy truyền thông phải đóng vai trò quan trọng: giúp họ biết rằng mình có thể thay đổi và còn cơ hội để xoay ngược tình thế.

Xem thêm: Người trẻ tháo chạy khỏi nghề nông: Ai giữ hồn đồng bằng?

Tôi không bi quan về tương lai ĐBSCL. Tôi lạc quan, nhưng phải bắt đầu ngay, và bắt đầu bằng những hành động rất cụ thể. Còn với bạn trẻ, tôi muốn nhắc họ rằng: nghề nào cũng quý. Anh có thể là kỹ sư thuật toán, nhà công nghệ giỏi thiết kế nền tảng, viết các phương trình rất hay, nhưng anh vẫn phải ăn mỗi ngày. Canh nông vẫn là thứ quan trọng nhất. Chỉ khi nào ta có thể dùng công nghệ đổi lấy lương thực, ta mới có thể rời xa nông nghiệp được. Còn hiện tại, nông nghiệp vẫn là gốc.

Ngọc Phương