Bài 3: Khi sản xuất làng nghề vấp phải… đám giỗ
Nông dân đâu chỉ làm khổ các ông chủ làm nông nghiệp sạch. Ăn tết. Tháng giêng. Đám giỗ. Vào vụ mùa. Những thời điểm và câu chuyện mà hễ hỏi đến là các ông chủ làng nghề thiếu điều… sợ xanh mặt.
Người làm thuê là nông dân, mang tư duy tùy hứng, mặc kệ… dưới ruộng lên làng nghề - nơi mà đòi hỏi quy trình, mẫu mã, thời gian vô cùng chuẩn xác. Vì họ “bẻ kèo” nhanh như điện, nên không ít chủ làng nghề chết đứng chết ngồi vì đơn hàng bị phạt, bị trả do không đúng hẹn, sai mẫu… Những làng nghề nổi nênh một phần cũng từ đó.
Những câu chuyện đắng lòng dưới đây, mà nếu mong chúng không tái diễn, e chỉ là mộng tưởng.
Mất đơn hàng vì… đám giỗ!
Chuyện cũ cách đây vài năm trong lần về Long Hồ, Vĩnh Long để viết bài về làng nghề gốm bên bờ sông Cổ Chiên, cứ bám riết. Khi hỏi những chủ lò gốm ở đây điều họ lo sợ nhất trong quá trình sản xuất là gì, phóng viên “bật ngửa” khi nghe các ông bà chủ lò cùng trả lời 1 câu: “Sợ nhất là đám giỗ! Thứ hai là mùa cấy và gặt lúa”.

Ông Tư Châu, chủ lò gốm ở xã Thanh Đức (cũ) cho biết, công nhân của lò gốm này hầu hết là nông dân, tranh thủ nông nhàn đi làm gốm. Vì vậy, thường mùa cấy lúa và gặt lúa, ông nhận ít đơn hàng hơn bình thường vì biết mùa này khó thuê nhân công. Các anh chị em đâu chỉ cấy gặt ruộng nhà, mà còn dần công, trả công cho nhau. Thường 1 vụ mùa, 1 người phải nghỉ đến 2, 3 tuần mới vào làm lại. Nhưng dù vậy, ông sẽ sắp xếp được để anh em người nghỉ trước, người nghỉ sau cho lúc nào xưởng cũng có thể vận hành.
Nhưng mùa gặt hay cấy mình còn tính ngày tính tháng để lượng được sản phẩm ra lò mà hợp đồng với khách, chứ còn đám giỗ thì thôi rồi! Họ đâu mời 1, 2 người mà mời cả xưởng. Nay giỗ xưởng làm nửa buổi sáng, còn mai, xưởng coi như đóng cửa vì ai nấy say xỉn có vào làm nổi đâu! “Vì đám giỗ mà không ít lần, các chủ lò gốm như như tôi bị đối tác Châu Âu đòi trả đơn hàng mấy trăm triệu đồng. Có khi gốm nung không đủ độ cứng vì vào lò rồi mà thiếu người canh… Mình giải thích là vì đám giỗ, làm sao họ hiểu!”, ông nói.
Khóc luôn với các “nghệ nhân”!
Anh Quốc Duy - Giám đốc Công ty TNHH Thiện Hữu Gia (trụ sở tại đường Nam Kỳ Khởi Nghĩa, quận 3, TP.HCM) cũng từng rơi vào cảnh khốn khổ vì sự tùy hứng của những nghệ nhân mà anh thuê làm tranh đá quý.
Anh kể: “Người đặt hàng tranh đá quý thường là những khách am hiểu, hoặc tin phong thủy. Nhưng giao làm mà không giám sát, đôi khi khóc luôn với các nghệ nhân! Không phải 1 lần mà hàng chục lần tôi đau đầu bởi sự tùy tiện này của thợ. Có bức tranh họ đặt 7 viên ruby, có thiết kế hẳn hòi. Khi ra sản phẩm, đếm lại 9 viên. Hỏi vì sao anh làm vậy, thợ của tôi đáp liền: “9 viên mới đẹp. Ruby mắc tiền, bỏ thêm vô khách càng thích”.

Hơn thế nữa, để xưởng sản xuất tranh đẹp, độc, anh Duy từng phải ra tận Nghệ An, Thanh Hóa, tuyển thợ và trả mức lương rất cao cùng nhiều chế độ đãi ngộ khác. Thế nhưng mỗi năm, cứ sau Tết là anh sính vính. Thợ không chỉ nghỉ Tết mà còn nghỉ hết Giêng. Nếu nhà thợ có giỗ chạp, cưới hỏi khi ra Giêng nữa thì khỏi hẹn ngày tái ngộ!
Anh nói : “Có làm chủ xưởng tranh sau mỗi mùa hết Tết tôi mới đồng cảm sâu sắc với những người chủ xí nghiệp, công ty phải đăng bảng tuyển dụng công nhân mới. Nhận người, đào tạo lại bài bản, quy chế, cách thức làm việc là cả một câu chuyện đau đầu với bao doanh nghiệp”.
Vài người tùy hứng, mất việc cả làng
Cách đây nhiều năm, bà Nguyễn Thị Hoàng Mai, hướng dẫn viên công ty du lịch Thanh Thanh từng nhận 1 lô hàng thổ cẩm từ đối tác là du khách của bà ở Châu Âu. Khách hàng yêu cầu chọn thổ cẩm từ Lào Cai để chế ra những chiếc tủi vải theo thiết kế, vì họ ưng chất liệu và họa tiết trên vải do nơi này dệt ra.
Bà kể: “Thiệt tình tôi không có nhận làm đâu vì tiền lời nếu tính ra, chỉ đủ tiền đi máy bay, di chuyển, gửi hàng… Nhưng vì thấy việc kết nối này mang nguồn lợi lớn cho đồng bào chúng tôi mới nhận đơn hàng”.
Để đảm bảo việc sản xuất đúng yêu cầu của khách, bà Mai đích thân ra tận Lào Cai vào các bản làng, nhờ già làng, hội phụ nữ ở địa phương kết nối cùng các hộ dân. Bà đưa mẫu, các nghệ nhân trong làng cũng dệt theo đúng mẫu nên bà ký ngay hợp đồng, giao kèo với các hộ dân dưới sự chứng kiến của già làng.

Thế nhưng hai tháng sau đến ngày nhận hàng, bà Mai nhận hàng chục kiểu hoa văn khác nhau do các nghệ nhân sáng tạo. Bà nhớ lại tình cảnh dở khóc dở cười của mình: “Họ tùy tiện đến mức chỗ lẽ ra làm chỉ xanh lá, họ chen luôn màu xanh dương, thậm chí là màu đỏ. Chỗ thêu chữ thập, họ đánh đường chéo và còn nói cái nào cũng cheo chéo như nhau. Cuối cùng, khách không nhận, những chiếc túi vải thổ cẩm lỡ đặt hàng ấy, công ty tôi phải thanh lý bằng cách tặng cho khách khác ở các kỳ hội chợ!”
“Đến bây giờ cả chục năm trôi qua, khi gặp lại chúng tôi, các vị du khách ấy vẫn nói họ rất tiếc, họ muốn tạo cơ hội việc làm dài hơi, tiếp sức cho làng nghề vì thấy người dân quá nghèo, nhiều trẻ em áo xống phong phanh, chân trần đi trong làng…”, bà Mai nói.
Mới đây, cũng do bị tráo màu, đổi chỉ, sáng tác thêm hoa văn khi đặt thổ cẩm để điểm xuyết trên những chiếc địu vải BUBI, nữ doanh nhân Trần Thị Kim Thoa quyết định không đặt hàng các làng thổ cẩm nữa mà khi cần nguyên liệu, chị đích thân chọn mua tận gốc. Lựa cái người thợ đã sản xuất hàng loạt để mang về sản xuất. Chị nói: “Sản xuất địu vải là quy trình công nghiệp, làm hàng loạt. Nhưng nếu đặt hàng thợ từ các làng nghề, nguy cơ sai lệch cả về khổ vải đến màu sắc là rất cao. Tôi chọn cách giúp họ bằng cách mua thành phẩm mà tôi ưng và phù hợp với thiết kế chiếc địu của công ty, chứ không dám đặt hàng hàng loạt nữa!”.
Tư duy sản xuất tiểu nông ăn sâu, bám rễ vào nông dân, nông thôn Việt Nam khó thay đổi trong một ngày một bữa như tâm lý bám mùa vụ, thuận thiên. Điều này có thể đồng cảm, chia sẻ. Nhưng suy nghĩ “mình chỉ là người làm thuê” thì “làm cho có”, bởi: “mình vất vả, chủ ăn trên ngồi trước”, rồi tùy tiện, ỷ lại… thì không ai đồng tình.
Tuy nhiên, thay đổi tư duy nông dân từ sản xuất giản đơn đến làm chủ công nghệ thời AI, không chỉ phụ thuộc vào nông dân mà còn cần sự nhận thức và hành động của toàn xã hội.
(Còn nữa)
