Người Chứt ở Rào Tre - 70 năm hồi sinh một tộc người từ hang đá | Bài 2
Người Chứt – một tộc người bí ẩn sống chủ yếu trong hang đá, lấy việc săn bắt, hái lượm để duy trì sự sống. Cuộc sống bao đời cứ cô lập, tách biệt, hoang dã đối diện với nguy cơ tuyệt chủng.
Năm 1967, Bộ đội Biên phòng Hà Tĩnh phát hiện một nhóm khoảng 20 người Chứt sống trong hang động trên dãy Trường Sơn ở biên giới Việt – Lào, và đã đưa họ về sống hoà nhập dưới chân núi Ka Đay. Từ sự nỗ lực của các cấp chính quyền, tộc người tưởng như biến mất trên bản đồ dân số, có nguy cơ tuyệt chủng đã hồi sinh, “vươn mình” đến thế giới văn minh.
Bài 1: Gian nan hành trình 'hạ sơn' từ hang đá
Bài 2: Từng cuộc vượt thoát lời nguyền hang đá
Bài 2: Từng cuộc vượt thoát 'lời nguyền hang đá'
Nằm lặng lẽ ở góc rừng, dưới chân dãy núi Ka Đay bản Rào Tre của tộc người Chứt với mấy chục nóc nhà sàn quây quần tựa lưng vào núi. Là một trong những tộc người thiểu số ít người nhất Việt Nam, họ từng sống “mòn” với những hủ tục lạc hậu, đối mặt với nguy cơ suy thoái giống nòi.
Ma rừng bắt… vượt cạn bên bờ suối
Mặt trời vừa đứng bóng, ông Hồ Phượng ngồi bó gối ăn cơm nơi góc nhà bê tông kiên cố. Thấy ông, chúng tôi ghé vào hỏi chuyện.
Nhớ lại hồi còn sống trong rừng sâu, người đàn ông có gương mặt đen sạm này trầm ngâm một lúc. “Cảm ơn cán bộ đưa ta từ rừng sâu về đây sinh sống, được ở trong căn nhà khang trang. Hồi ở trong rừng khổ lắm, tộc ta không có nhà ở, chỉ ở trong hang đá thôi. Cả bốn mùa, đàn ông đóng khố, đàn bà mặc váy kết từ lá hoặc vỏ cây rừng. Không có gạo ăn đâu, chỉ sống bằng củ khoai, củ mài đào trên núi thôi. Tộc ta hồi đó không ai biết chữ, ốm đau nhờ thầy mo cúng con ma rừng. Nhưng người bệnh cũng chết vì con ma rừng bắt đi” - ông nói.
Nhấp ngụm nước, ông tiếp, hồi xưa tộc ta sống thiếu thốn, nhiều hủ tục lạc hậu lắm. Nhất là hủ tục sinh con đầy oan nghiệt ngoài bờ suối.
Ngày trước, phụ nữ sinh con phải tự ra bờ suối dựng lán, tự vượt cạn. Nhất quyết không được sinh con tại nhà. Vì như vậy sẽ mang điều xui xẻo cho cả tộc. Cô độc và thiếu thốn khiến những đứa trẻ sinh ra bị nhiễm bệnh. Ông Hồ Phượng chỉ tay về phía gian nhà sàn sát vách. Ông nói, bà Nhâm 8 lần sinh con ngoài bờ suối, bị ma rừng bắt đi 4 đứa.
Theo hướng tay của ông Hồ Phượng, tôi tìm đến nhà bà Hồ Nhâm. Ngồi bên góc vườn, người đàn bà trạc tuổi ngũ tuần, nước da đen sạm vì cháy nắng. Người đàn bà khắc khổ không nhớ mình bao nhiêu tuổi. Nhưng nỗi ám ánh về những lần một mình vượt cạn ngoài suối thì đã in sâu vào tâm trí.
Ký ức của người đàn bà 8 lần sinh con một mình ngoài suối
Khi được hỏi mình có mấy người con, Hồ Nhâm không nhớ. Nhưng như một phản xạ, bà đưa những ngón tay ra đếm. Bà dừng lại ở ngón tay số 8 rồi ậm ừ: “8 đứa nhưng 4 đứa bị ma rừng bắt đi”.

Tám lần chuyển dạ là ngần ấy lần Hồ Nhâm cô độc giành giật sự sống của con thơ từ tay “ma rừng”. Đến giờ, bà vẫn chưa hết kinh hãi.
Hồ Nhâm tâm sự: “Ngày trước sinh con là phải ra bờ suối ở đủ 16 ngày mới được về nhà ở. Theo tục lệ, nếu không làm như vậy, sẽ mang lại điều xui xẻo cho cả bản. Khi ra suối sinh con sống thì không nói, còn nếu chết thì là do ma rừng bắt chết”.
Những buổi đêm mùa đông lạnh ngắt nơi núi đồi, tiếng thú rừng gào rú từng hồi khiến người đàn bà khóc trong sợ hãi.
“Có những mùa đông chuyển dạ một mình, cứ vớ được cây nào thì bám chặt vào rồi lấy hết sức để đẻ. Cứ nghe tiếng thú rừng rú là toàn thân lạnh ngắt. Sợ thú bắt mất con”, chị Hồ Nhâm nghẹn lại.
“Ma rừng đã chết”
Từ ngày định cư dưới chân núi Ka Đay, tộc người Chứt với 46 hộ, 160 nhân khẩu đã thay đổi từng ngày. Nhiều hủ tục đã được xoá bỏ. Người Chứt không còn tìm đến thầy mo để “xua đuổi con ma rừng” mỗi khi đau ốm. Tục sinh con ngoài bờ suối cũng được xoá bỏ. Họ mua tivi, sắm xe máy chạy vù vù quanh bản.
Trong hang đá ẩm ướt giữa rừng sâu thời đó, những cặp vợ chồng hầu hết có chung huyết thống. Hôn nhân cận huyết tạo ra những đứa trẻ dị tật, kém phát triển. Người Chứt đứng trước nguy cơ suy thoái giống nòi.
“Năm 2002 tôi được phân công về công tác tại tổ cắm bản Rào Tre. Thời điểm đó bà con còn nhiều hủ tục lạc hậu lắm. Đau ốm thì họ tìm thầy mo. Sinh con thì ra ngoài bờ suối… Đặc biệt hôn nhân cận huyết để lại hậu quả nặng nề. Những đứa trẻ sinh ra không lành lặn, thậm chí còn chết ngay khi mới sinh.
Tôi vẫn nhớ trường hợp của Hồ Thị Tương. Năm 2005, Tương kết hôn cùng Hồ Hải, đây là trường hợp cậu cháu lấy nhau. Sau khi kết hôn, Tương liên tục sinh mấy đứa con nhưng đều chết. Chính tay tôi cùng các đồng đội trong bản đã phải hỗ trợ chôn cất những đứa trẻ ấy. Tội lắm!” - Trung tá Dương Thanh Tịnh – Nguyên tổ trưởng tổ cắm bản Rào Tre nhớ lại.

Thiếu Tá Đoàn Văn Tiệp – Tổ trưởng tổ cắm bản Rào Tre đưa tôi đến nhà Hồ Thị Xanh (SN 1999). Trên đường đi, anh kể: “Giờ trong bản gần như không còn trường hợp hôn nhân cận huyết nữa. Trường hợp của Hồ Thị Xanh rất hiếm. Năm 2014, Xanh kết hôn với người cùng bản, nhưng lại là con chú lấy con bác. Xanh sinh 2 con thì một đứa bị chết, một đứa bị tật không đi lại được”.
Dù còn ít tuổi, nhưng nhìn gương mặt của Xanh rất khắc khổ. Khi được chúng tôi hỏi về việc lấy chồng, Xanh lắc đầu nói lúc đó không biết là bà con.
“Vợ chồng em không sinh nữa đâu. Đứa đầu mất rồi. Giờ đứa thứ 2 không đi lại được. Khổ lắm”, Hồ Thị Xanh ôm con vào lòng, nói.
Những đám cưới xé toang hủ tục của người Chứt
Trước nạn hôn nhân cận huyết, tỉnh Hà Tĩnh đã ban hành một đề án phát triển tộc người Chứt. Trong đó chú trọng đến việc dựng vợ, gả chồng cho các bạn trẻ. Các chiến sĩ trong Tổ công tác cắm bản Rào Tre và Tỉnh đoàn Hà Tĩnh thường xuyên tổ chức cho thanh niên người Chứt giao lưu với thanh niên các dân tộc khác. Từ đó, tình yêu của những chàng trai, cô gái giữa các dân tộc dần nảy sinh.

Năm 2015, đám cưới giữa cô gái người Chứt với chàng trai người Kinh đã lần đầu xé toang hủ tục. Đám cưới của chị Hồ Thị Mai và anh Lê Xuân Công được Bộ đội Biên phòng tỉnh Hà Tĩnh lo liệu. Quả ngọt của cuộc hôn nhân này là những đứa con khoẻ mạnh.
Từ năm 2015 đến nay, Bộ đội biên phòng tỉnh Hà Tĩnh đã hợp tác, tổ chức đám cưới cho hơn 30 cặp đôi giữa người Chứt ở Rào Tre với người Mã Liềng, người Kinh ở Hà Tĩnh, Quảng Bình, Phú Thọ…
Với sự đồng hành của Bộ đội Biên Phòng, hôn nhân của tộc người này đã cởi mở hơn nhiều. Hồ Thị Hiên (SN 2005) khi đi làm công nhân ở Thái Nguyên đã nên duyên với Cao Xuân Lộc – một chàng trai đến từ Phú Thọ. Cuộc sống gia đình nhỏ hạnh phúc hơn khi đón thêm đứa con đầu lòng khoẻ mạnh, bụ bẫm.
“Giờ khác xưa lắm, thanh niên trong bản đi làm xa rồi tìm hiểu, lấy chồng, lấy vợ khác bản. Em may mắn vì được bố mẹ chồng yêu thương”, Hồ Thị Hiên chia sẻ.
Những cô gái người Kinh cũng sẵn sàng lên làm vợ trai bản. Là một cô gái người Kinh, Nguyễn Thị Vinh nên duyên với chàng trai bản là Hồ Thanh Sỹ. Vợ chồng ông bà sinh được 3 người con. Các con đều đã trưởng thành, đi làm công nhân, cuộc sống tương đối ổn định.
“Lúc đầu quyết định lấy chồng về đây tôi cũng do dự lắm. Nhưng được sự động viên của các chú Bộ đội Biên Phòng, tôi vẫn quyết định lấy. Vợ chồng tôi được bộ đội làm nhà cho. Tôi còn được các anh hướng dẫn trồng lúa nước. Cuộc sống không khá giả nhưng cũng vừa đủ”, bà Nguyễn Thị Vinh tâm sự.
Cán bộ tổ công tác bản Rào Tre cùng ăn, cùng ở, cùng làm với người Chứt. Nhờ vậy, họ đẩy lùi những hủ tục lạc hậu. Ngày nay phụ nữ sinh con đã được đến bệnh viện. Người ốm đau đã có cán bộ y tế mang quân hàm xanh chăm lo. Đặc biệt, những đám cưới xé toang hủ tục đã mở ra một trang mới cho bà con người Chứt ở bản Rào Tre.
(Còn nữa)



