Mở rộng khung đầu tư nông thôn mới: Chiếc áo hiện đại có vừa vặn thực tế?
Thông tư 23/2026/TT-BNNMT vừa ban hành được kỳ vọng sẽ tạo ra bước chuyển lớn khi đưa logistics nông sản, kinh tế tuần hoàn và hạ tầng thích ứng thiên tai vào bộ tiêu chí cốt lõi. Dù vậy, nhìn từ thực địa, hành trình chuyển đổi từ tư duy "hạ tầng dân sinh" sang "hệ sinh thái kinh tế" đang đặt ra những bài toán hóc búa về áp lực tiêu chí và bài toán nguồn lực.

Theo đó, thông tư hướng dẫn thực hiện một số nội dung trọng tâm thuộc Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới, giảm nghèo bền vững và phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2026-2030.
Thông tư 23: từ đường làng bê tông đến chuỗi kho lạnh liên kết vùng
Thay đổi căn bản nhất trong văn bản này, là việc chính thức mở rộng khung đầu tư sang hệ thống logistics nông sản liên kết vùng. Nhiều năm qua, nông thôn mới thường gắn với bê tông hóa đường làng, trường học hay điện lưới. Lần này kho lạnh, trung tâm sơ chế, sấy, đóng gói, xuất hiện ra. Các điểm cung ứng - thu mua tại vùng nguyên liệu tập trung cũng được xếp vào nhóm ưu tiên. Điểm nghẽn lớn nhất của nông sản Việt, hy vọng sẽ được giải quyết. Đó là giảm tổn thất sau thu hoạch và thoát khỏi nạn "được mùa mất giá".

Kinh tế tuần hoàn và hạ tầng môi trường, giờ đây cũng được định hình cụ thể. Bao gồm mô hình thu gom, tái chế phụ phẩm nông nghiệp, xử lý chất thải chăn nuôi. Đồng thời đi kèm là các dự án liên quan.
Tầm nhìn này đòi hỏi tư duy quy hoạch phải đi trước một bước, đặc biệt là trong bài toán thích ứng với biến đổi khí hậu. Kiểm soát mặn - ngọt. Tích trữ nước ngọt sinh hoạt. Thủy lợi thông minh. Hệ thống cảnh báo sớm... Tất cả có mặt trong bộ khung cho hạ tầng sản xuất. Di dân, ổn định cuộc sống cho người dân vùng sạt lở, lũ quét, cũng được mở ra các cơ chế linh hoạt hơn. Không còn việc ép vào một khuôn mẫu cứng nhắc.
Nguy cơ hụt hơi vì ôm đồm chỉ tiêu
Chính sách càng toàn diện, áp lực thực thi tại cơ sở càng lớn. Khi đối chiếu các tiêu chí hiện đại này với thực tế tại các vùng lõi nghèo, không ít nút thắt đã lộ diện.
Mối lo lớn nhất là nguy cơ quá tải tiêu chí tại các tỉnh miền núi, vùng sâu vùng xa. Ở đó, các chỉ tiêu cơ bản về thu nhập hay tỷ lệ hộ nghèo đa chiều vốn, hoàn thành được là trầy trật. Nay phải gánh thêm logistics hay kinh tế tuần hoàn, càng khó. Cơ sở sẽ đuối sức. Hoặc nảy sinh huyện chạy theo thành tích trên hồ sơ.

Nguồn vốn triển khai cũng đặt ra một nghịch lý. Làm theo hướng đó, là vốn lớn, trong khi ngân sách công luôn phải dàn trải. Việc kêu gọi doanh nghiệp hay hợp tác xã bỏ vốn đầu tư dịch vụ, không dễ. Tại vùng sâu vùng xa, nơi hạ tầng kết nối còn yếu, chi phí vận hành cao và biên độ lợi nhuận mỏng, đầu tư là bài toán cực kỳ nan giải.
Tập quán sản xuất cũ của người dân cũng là một lực cản vô hình với kinh tế xanh, sinh thái. Chưa hết, lâu nay di dân chỉ có chỗ ở. Họ bế đất đất sản xuất và sinh kế đi kèm. Kịch bản người dân bỏ làng mới để quay về làng cũ để sản xuất, là điều rất dễ lặp lại.
Chấp nhận "tiêu chí động" để chính sách hạ cánh
Để chính sách này thực sự đi vào đời sống và phát huy hiệu quả, cần sự uyển chuyển, tránh tư duy cào bằng.
Các địa phương cần được trao quyền chủ động phân kỳ thực hiện dựa trên đặc thù vùng miền bằng một hệ thống "tiêu chí động". Vùng khó khăn, miền núi cao phải ưu tiên nguồn lực cho an sinh, hạ tầng thiết yếu và sinh kế cơ bản trước. Các vùng đồng bằng, giao thương thuận lợi mới áp dụng ngay các tiêu chí cao về logistics và công nghệ tuần hoàn.
Đối với hạ tầng dịch vụ nông nghiệp, thay vì trông chờ vào bao cấp, cần kích hoạt các mô hình hợp tác công tư quy mô nhỏ. Ở đó, Nhà nước chỉ cần đầu tư "mồi" thông qua việc hỗ trợ mặt bằng sạch. Kéo điện sản xuất và đường giao thông kết nối đến tận hàng rào. Phần còn lại, hợp tác xã hoặc doanh nghiệp tự đầu tư và khai thác. Có như vậy, hạ tầng mới vận hành liên tục và tự nuôi sống được chính nó.
Muốn thay đổi thói quen của người nông dân đối với kinh tế tuần hoàn, cách nhanh nhất là chứng minh được lợi ích kinh tế sát sườn. Không nói suông, phải chuyển giao các công nghệ biến phụ phẩm thành tiền ngay tại chuồng, tại ruộng. Khi người dân thấy rõ việc "bỏ rác là mất tiền", họ sẽ tự khắc trở thành chủ thể chủ động tham gia.
Cuối cùng, bản chất của mọi cuộc di dân vùng thiên tai phải là "an cư đi liền với lạc nghiệp". Sinh kế bền vững chính là sợi dây duy nhất neo giữ người dân ở lại với vùng đất mới an toàn hơn.
Chiếc áo cơ chế mới đã được dệt xong, rất đẹp và hiện đại. Nhưng nó có vừa vặn hay không, là một chuyện. Nó hoàn toàn phụ thuộc vào sự tỉnh táo và tài "liệu cơm gắp mắm" của từng địa phương.




