Chính sách

Gỡ điểm nghẽn khoa học công nghệ, tạo động lực mới cho tăng trưởng nông nghiệp

ĐỨC KHẢI • 08/11/2026 15:57

Khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số được xác định phải trở thành động lực trực tiếp thúc đẩy tăng trưởng ngành nông nghiệp. Tuy nhiên, để những giải pháp này đi vào thực tiễn, yêu cầu đặt ra không chỉ là đầu tư công nghệ mà còn phải tháo gỡ các điểm nghẽn về thể chế, tài chính, chuyển giao kết quả nghiên cứu, dữ liệu và liên kết giữa nhà khoa học với doanh nghiệp, hợp tác xã, người sản xuất.

Đưa khoa học công nghệ thành động lực tăng trưởng thực chất

Văn phòng Chính phủ vừa ban hành Thông báo số 574/TB-VPCP ngày 8/11/2026, thông báo kết luận của Phó Thủ tướng Chính phủ Hồ Quốc Dũng tại Hội nghị “Phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số thúc đẩy tăng trưởng ngành nông nghiệp”.

Thông điệp xuyên suốt được đặt ra là khoa học, công nghệ và chuyển đổi số không thể chỉ dừng ở những chương trình, đề tài nghiên cứu hay hoạt động ứng dụng riêng lẻ, mà phải tạo ra kết quả cụ thể trong sản xuất, kinh doanh và nâng cao giá trị nông sản.

Nong nghiep khcn
Khoa học công nghệ được xác định phải trở thành động lực trực tiếp thúc đẩy tăng trưởng ngành nông nghiệp

Yêu cầu này xuất phát từ vai trò đặc biệt quan trọng của nông nghiệp đối với nền kinh tế và đời sống xã hội. Theo thông báo, hơn 60% dân số Việt Nam sống ở khu vực nông thôn. Nông nghiệp vì vậy không chỉ liên quan trực tiếp đến sinh kế của người dân mà còn gắn với an ninh lương thực, an sinh xã hội, sức khỏe cộng đồng và mục tiêu phát triển bền vững.

Trong giai đoạn 2021-2025, tăng trưởng nông nghiệp bình quân đạt khoảng 3,57% mỗi năm. Ngành tiếp tục khẳng định vai trò là trụ đỡ của nền kinh tế trong những thời điểm khó khăn. Riêng 9 tháng năm 2026, tăng trưởng của ngành đạt 4,02%, góp phần vào mức tăng trưởng chung 9,01% của cả nước.

Những kết quả này cho thấy nông nghiệp vẫn còn dư địa đóng góp đáng kể cho tăng trưởng kinh tế. Tuy nhiên, trong bối cảnh yêu cầu về chất lượng, tiêu chuẩn, truy xuất nguồn gốc và phát triển bền vững ngày càng cao, phương thức sản xuất dựa nhiều vào kinh nghiệm, lao động thủ công và lợi thế tài nguyên sẽ khó đáp ứng yêu cầu cạnh tranh trong dài hạn.

Theo định hướng được Phó Thủ tướng nhấn mạnh, khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số phải trở thành động lực trực tiếp của tăng trưởng nông nghiệp. Các sản phẩm nghiên cứu và ứng dụng công nghệ cần hướng vào thực tiễn sản xuất, có khả năng thương mại hóa, sức cạnh tranh cao; qua đó nâng cao năng suất, chất lượng nông sản, giảm chi phí sản xuất, giảm phát thải và gia tăng giá trị.

Điểm đáng chú ý là hiệu quả ứng dụng không chỉ được đánh giá bằng số lượng đề tài nghiên cứu, công nghệ được chuyển giao hay hệ thống phần mềm được xây dựng. Thước đo cuối cùng phải là hiệu quả kinh tế, xã hội và môi trường; năng suất, chất lượng, giá trị gia tăng của sản phẩm và thu nhập, đời sống của người sản xuất.

Cách tiếp cận này đặt doanh nghiệp, hợp tác xã và người nông dân vào vị trí trung tâm của quá trình ứng dụng công nghệ. Thay vì nghiên cứu trước rồi mới tìm nơi áp dụng, các nhiệm vụ khoa học cần xuất phát từ nhu cầu của ngành hàng, địa phương và thị trường. Mỗi nhiệm vụ phải xác định rõ địa chỉ ứng dụng, sản phẩm đầu ra và khả năng nhân rộng, tránh đầu tư dàn trải nhưng không tạo ra hiệu quả rõ ràng.

Nhận diện đúng những điểm nghẽn

Một trong những vấn đề được đặt ra tại hội nghị là những hạn chế trong quá trình đưa kết quả nghiên cứu khoa học vào sản xuất. Thực tế, để một công nghệ có thể được ứng dụng rộng rãi, không chỉ cần có kết quả nghiên cứu mà còn phải có cơ chế đặt hàng phù hợp, nguồn lực tài chính, quy trình thử nghiệm, tổ chức tiếp nhận và thị trường tiêu thụ.

Thông báo số 574/TB-VPCP yêu cầu các bộ, ngành và địa phương nhận diện đầy đủ, thực chất những điểm nghẽn về thể chế, cơ chế tài chính, chuyển giao và thương mại hóa kết quả nghiên cứu. Các lĩnh vực được đề cập bao gồm giống cây trồng, vật nuôi, thức ăn chăn nuôi, vaccine, phân bón, thuốc bảo vệ thực vật và nhiều sản phẩm, giải pháp công nghệ phục vụ sản xuất nông nghiệp.

Đây đều là những đầu vào quan trọng, ảnh hưởng trực tiếp đến năng suất, chất lượng và chi phí sản xuất. Nếu kết quả nghiên cứu về giống mới, vaccine, thức ăn chăn nuôi hay phân bón không được chuyển giao kịp thời, người sản xuất sẽ khó tiếp cận các giải pháp giúp nâng cao hiệu quả. Ngược lại, nếu cơ chế thương mại hóa chưa thông thoáng, doanh nghiệp cũng thiếu động lực đầu tư tiếp nhận, hoàn thiện và phát triển sản phẩm từ nghiên cứu khoa học.

Một yêu cầu đáng chú ý khác là hoàn thiện cơ chế đặt hàng nhiệm vụ khoa học, công nghệ trong nông nghiệp. Bộ Nông nghiệp và Môi trường được giao phối hợp với Bộ Khoa học và Công nghệ đẩy mạnh cơ chế này, gắn nghiên cứu với nhu cầu thực tiễn của sản xuất và thị trường. Mục tiêu được đặt ra là phấn đấu tối thiểu 30% số đề tài, nhiệm vụ nghiên cứu xuất phát từ nhu cầu thực tế.

Nếu được triển khai hiệu quả, cơ chế đặt hàng sẽ góp phần thu hẹp khoảng cách giữa phòng thí nghiệm và đồng ruộng, giữa kết quả nghiên cứu với yêu cầu của doanh nghiệp. Nhà khoa học có thêm cơ sở xác định vấn đề cần giải quyết, trong khi doanh nghiệp, hợp tác xã và người sản xuất có cơ hội tham gia ngay từ khâu đề xuất, thử nghiệm đến tiếp nhận công nghệ.

Cùng với đó, cần hoàn thiện các quy định về sở hữu trí tuệ, định mức kinh tế - kỹ thuật và cơ chế huy động nguồn lực xã hội cho nghiên cứu. Đây là những yếu tố có ý nghĩa quan trọng trong việc tạo lập thị trường cho các kết quả khoa học, khuyến khích doanh nghiệp đầu tư vào đổi mới công nghệ và tăng khả năng khai thác giá trị từ tài sản trí tuệ.

Bộ Khoa học và Công nghệ được giao tổng hợp, giải quyết hoặc kiến nghị xử lý những vướng mắc liên quan đến đầu tư, tài chính, định giá và khai thác tài sản trí tuệ, chuyển giao, thương mại hóa kết quả nghiên cứu cũng như cơ chế chấp nhận rủi ro có kiểm soát. Cơ quan này cũng phải xây dựng tiêu chí để lựa chọn những kết quả nghiên cứu có khả năng ứng dụng, thương mại hóa ngay; đồng thời rà soát các nhiệm vụ đang triển khai, tiếp tục hỗ trợ những đề tài có khả năng tạo ra sản phẩm cụ thể.

Định hướng này cho thấy yêu cầu chuyển từ tư duy quản lý đề tài sang quản lý kết quả và hiệu quả ứng dụng. Những nghiên cứu có triển vọng cần được hỗ trợ để đi tiếp đến khâu thử nghiệm, hoàn thiện công nghệ và thương mại hóa, thay vì kết thúc sau khi nghiệm thu.

Bên cạnh công nghệ sản xuất, chuyển đổi số và truy xuất nguồn gốc được xác định là một trong những nhiệm vụ trọng tâm của ngành nông nghiệp trong giai đoạn tới.

Khi thị trường ngày càng quan tâm đến chất lượng, an toàn thực phẩm và tính minh bạch của sản phẩm, truy xuất nguồn gốc không còn đơn thuần là một công cụ cung cấp thông tin cho người tiêu dùng. Đây còn là cơ sở để quản lý vùng nguyên liệu, kiểm soát quy trình sản xuất, xác thực chất lượng và nâng cao năng lực đáp ứng yêu cầu của các thị trường xuất khẩu.

Theo chỉ đạo của Phó Thủ tướng, Bộ Nông nghiệp và Môi trường phải chủ trì, phối hợp với Bộ Công an, Bộ Khoa học và Công nghệ, Bộ Tài chính, Bộ Công Thương cùng các cơ quan, địa phương hoàn thiện và tổ chức vận hành Hệ thống truy xuất nguồn gốc nông sản.

Trọng tâm là chuẩn hóa, kết nối và chia sẻ dữ liệu; xác định bộ dữ liệu tối thiểu cho từng nhóm sản phẩm; hướng dẫn quy trình cập nhật, tiêu chuẩn kỹ thuật kết nối

    Nổi bật
        Mới nhất
        Gỡ điểm nghẽn khoa học công nghệ, tạo động lực mới cho tăng trưởng nông nghiệp
        • Mặc định

        POWERED BY ONECMS - A PRODUCT OF NEKO