Đồng Tháp công bố kế hoạch phát triển ngành thủy sản đến năm 2030
Theo kế hoạch, tỉnh Đồng Tháp sẽ phát triển ngành chế biến thủy sản theo hướng hiện đại, tuần hoàn, an toàn sinh học, đáp ứng bảo vệ môi trường…

Tham vọng “lột xác” ngành thủy sản Đồng Tháp
Ngày 23/9, Ủy ban nhân dân tỉnh Đồng Tháp ban hành Kế hoạch 1439/KH-UBND triển khai thực hiện Đề án phát triển ngành chế biến thủy sản trên địa bàn tỉnh giai đoạn 2026 – 2030.
Theo đó, tỉnh muốn thúc đẩy thủy sản thực sự trở thành ngành kinh tế mũi nhọn tạo bước bứt phá tăng trưởng cho toàn ngành nông nghiệp và kinh tế khu vực nông thôn.
Đồng thời, đẩy mạnh dịch chuyển mạnh mẽ cơ cấu sản phẩm theo hướng nâng cao tỷ trọng các dòng chế biến sâu, có giá trị gia tăng lớn; gắn kết chặt chẽ quy trình sản xuất với ứng dụng khoa học kỹ thuật đo lường chính xác, chuyển đổi số thực chất và chuyển đổi xanh toàn diện, ứng dụng mô hình công nghiệp xanh và kinh tế tuần hoàn; nâng cao năng lực hội nhập, khẳng định vị thế ngoại thương và uy tín trên thị trường trong nước và quốc tế.
Mục tiêu cụ thể, Đồng Tháp phấn đấu tốc độ tăng trưởng giá trị sản xuất thủy sản đạt bình quân 6,87%/năm; tổng giá trị sản xuất toàn ngành đạt 37.360 tỉ đồng; tổng sản lượng thủy sản đạt 1.409 nghìn tấn.
Tốc độ tăng trưởng sản lượng thủy sản chế biến đạt trên 6%/năm, tốc độ tăng trưởng kim ngạch xuất khẩu thủy sản chế biến đạt 10%/năm đóng góp vào mục tiêu 14,8 tỉ USD xuất khẩu chung của tỉnh.
Trên 70% số doanh nghiệp chế biến thủy sản trên địa bàn tỉnh đạt trình độ và năng lực công nghệ trung bình tiên tiến trở lên.
Duy trì 100% cơ sở nuôi trồng, kinh doanh lĩnh vực thủy sản được chứng nhận đủ điều kiện an toàn thực phẩm hoặc ký cam kết tuân thủ quy định pháp luật. Đồng thời, duy trì 100% sản phẩm OCOP thủy sản đạt từ 03 sao trở lên quảng bá giới thiệu và kinh doanh trên nền tảng số.
8 giải pháp
Để thực hiện các mục tiêu trên, UBND tỉnh Đồng Tháp sẽ tập trung vào 8 nhóm nhiệm vụ, giải pháp.
Thứ nhất, rà soát quy hoạch vùng nuôi, kiểm soát và phát triển nguồn nguyên liệu chế biến ổn định, chất lượng. Việc rà soát bảo đảm đồng bộ từ khâu sản xuất giống, nuôi trồng, khai thác đến chế biến, tiêu thụ; tổ chức triển khai các chương trình, đề án, dự án lĩnh vực thủy sản đã được phê duyệt.
Tổ chức cơ cấu không gian nuôi theo đặc thù 4 tiểu vùng tài nguyên nước. Vùng I sông Tiền và Vùng II Đồng Tháp Mười ưu tiên sản xuất lúa - thủy sản kết hợp (2 lúa - 1 cá, 2 lúa - 1 tôm) tận dụng mùa nước lũ tràn đồng nhằm tạo sinh kế bền vững. Vùng IV ven biển phía Đông phát triển nuôi tôm công nghệ cao, đồng thời bảo tồn và nâng cao giá trị vùng nuôi nghêu, hàu theo hướng sinh thái, bền vững.
Quản lý chặt chẽ chất lượng con giống; đẩy mạnh ứng dụng công nghệ cao, công nghệ 4.0; Ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số, công nghệ GIS và viễn thám để số hóa, quản lý thống nhất cơ sở dữ liệu vùng nuôi, tàu cá, cảng cá toàn tỉnh. Đồng thời, bảo đảm các cơ sở nuôi cá tra, tôm lợ và thủy sản lồng bè được cấp mã số nhận diện nhằm phục vụ công tác truy xuất nguồn gốc và giám sát nghiêm ngặt dư lượng hóa chất, kháng sinh cấm.
Thứ hai, ứng dụng khoa học công nghệ, phát triển chế biến sâu. Bằng cách, khuyến khích, hỗ trợ các cơ sở chế biến thủy sản trên địa bàn tỉnh chủ động đầu tư, đổi mới trang thiết bị và ứng dụng các công nghệ hiện đại như cấp đông siêu tốc (IQF), hệ thống đá sệt, màng sinh học bảo quản và kho lạnh thông minh vào sản xuất.
Triển khai đồng bộ giải pháp cơ giới hóa, tự động hóa các khâu trong dây chuyền nhằm giảm chi phí vận hành, giảm tổn thất sau thu hoạch, nâng cao công suất hoạt động và đáp ứng đầy đủ các tiêu chuẩn bảo vệ môi trường sinh thái.
Thúc đẩy liên kết giữa doanh nghiệp với các nhà khoa học trong việc ứng dụng công nghệ sinh học để tái chế, tận thu tối đa giá trị từ đầu, vỏ tôm, da, xương cá; tạo điều kiện thuận lợi cho các dự án sản xuất sản phẩm có hàm lượng công nghệ cao như collagen, gelatin, chitin, chitosan, thức ăn chăn nuôi nhằm nâng cao chuỗi giá trị và bảo vệ môi trường.
Thứ ba, phát triển hệ thống dịch vụ hậu cần và công nghiệp phụ trợ phục vụ ngành chế biến thủy sản. Cơ sở hạ tầng phục vụ dịch vụ hậu cần nghề cá, thu mua, sơ chế, chế biến thủy sản sẽ phát triển đồng bộ.
Thứ tư, tập trung nâng cao năng lực hoạt động sản xuất đảm bảo chất lượng, an toàn thực phẩm theo từng đối tượng cụ thể.
Chẳng hạn, với cơ sở, doanh nghiệp chế biến thủy sản sẽ được hỗ trợ đầu tư máy móc, thiết bị, cải tiến dây chuyền sản xuất thông qua các chương trình, chính sách khuyến công; khuyến khích áp dụng các giải pháp sản xuất sạch hơn, tiết kiệm năng lượng, nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm.
Các doanh nghiệp được hỗ trợ duy trì, cải tiến và mở rộng các hệ thống quản lý chất lượng tiên tiến, các tiêu chuẩn quốc tế nghiêm ngặt như HACCP, ISO, BRC, IFS, ASC, BAP đáp ứng nhu cầu thị trường thế giới. Nâng cao năng lực kiểm nghiệm nội bộ, tăng cường phối hợp liên ngành trong công tác kiểm tra, giám sát chặt chẽ dư lượng hóa chất, kháng sinh và xây dựng hệ thống số hóa truy xuất nguồn gốc sản phẩm…
Đối với hộ chế biến thủy sản quy mô nhỏ sẽ được khuyến khích tham gia hoặc thành lập các tổ hợp tác, hợp tác xã nhằm tăng cường năng lực liên kết sản xuất; đổi mới trang thiết bị, cải tiến công nghệ, đầu tư hệ thống cấp đông và kho bảo quản nhằm nâng cao năng suất, giảm tổn thất sau thu hoạch và bảo vệ môi trường sinh thái; tuân thủ nghiêm ngặt các quy định về vệ sinh an toàn thực phẩm, tuyệt đối không sử dụng hóa chất và kháng sinh cấm trong toàn bộ chuỗi sản xuất.
Thứ năm, thúc đẩy thương mại điện tử và phát triển thị trường tiêu thụ thông qua các chương trình tập huấn kỹ năng tiếp thị số, hỗ trợ doanh nghiệp livestream bán hàng đa kênh, đưa sản phẩm thủy sản chế biến sâu lên nền tảng kinh tế số, sàn thương mại điện tử lớn; hỗ trợ chủ thể mở gian hàng trực tuyến trên sàn thương mại điện tử lớn.
Thúc đẩy xây dựng các mô hình chuỗi sản phẩm thủy sản truyền thống, sản phẩm OCOP đạt tiêu chuẩn an toàn thực phẩm cao; tổ chức kết nối cung cầu, đưa sản phẩm thủy sản chế biến sâu vào hệ thống siêu thị, trung tâm thương mại, chuỗi cửa hàng thực phẩm sạch trên toàn quốc. Tổ chức đoàn doanh nghiệp khảo sát, tiếp xúc nhà nhập khẩu ở nước ngoài, các đoàn doanh nghiệp nước ngoài đến giao dịch kết nối cung cầu hàng xuất khẩu….
Ba giải pháp còn lại là nâng cao năng lực phòng, chống dịch bệnh và bảo vệ môi trường; hoàn thiện thể chế, cơ chế chính sách thu hút đầu tư, phát triển chế biến thủy sản; đào tạo, phát triển nguồn nhân lực phục vụ ngành chế biến thủy sản.


