Kinh tế xanh

Doanh nghiệp Việt tìm kiếm gì từ tín chỉ carbon?

DƯƠNG HẢI 17/08/2026 10:37

Từ nông nghiệp, sữa đến thép, doanh nghiệp Việt đang nhìn tín chỉ carbon không chỉ như một loại “hàng hóa” để bán. Điều họ tìm kiếm lớn hơn là khả năng giảm chi phí, tiếp cận dòng vốn xanh, nâng uy tín và chuẩn bị năng lực cạnh tranh khi phát thải ngày càng trở thành một yếu tố của thương mại và sản xuất.

tín chỉ carbon từ rừng ngập mặn.
Rừng ngập mặn có khả năng hấp thụ và lưu trữ carbon hiệu quả hơn nhiều so với hầu hết các loại rừng trên cạn.

Tại Diễn đàn Carbon Việt Nam 2026: “Từ chính sách đến hành động” ngày 14/8, những câu chuyện từ Công ty Cổ phần Thành Thành Công - Biên Hòa (AgriS), Tập đoàn TH và Công ty TNHH MTV Thép Miền Nam - VNSTEEL cho thấy doanh nghiệp ở các lĩnh vực rất khác nhau đang bắt đầu đưa tín chỉ carbon vào bài toán sản xuất và đầu tư.

Không nên đầu tư chỉ để “săn” tín chỉ carbon

Ông Trần Tấn Việt, Thành viên HĐQT AgriS, cho biết doanh nghiệp đã ghi nhận 4.375 tín chỉ carbon từ dự án phân bón hữu cơ theo tiêu chuẩn quốc tế Verra (VCS). Nhà máy Ba Trà, chuyên xử lý phụ phẩm nông nghiệp, dự kiến cung cấp khoảng 9.600 tín chỉ carbon mỗi năm.

Một dự án khác ứng dụng công nghệ biochar để xử lý bã mía, lá và ngọn mía, mì, nhánh cao su, trấu... hiện có quy mô 130 tấn biomass/ngày, dự kiến tạo khoảng 4.800 tín chỉ carbon/năm. Đến năm 2028, công suất dự kiến tăng lên 500 tấn biomass/ngày, tương đương khoảng 18.600 tín chỉ/năm.

AgriS cũng đã ký thỏa thuận chuyển giao tín chỉ carbon song phương với đối tác Singapore theo Điều 6.2 Thỏa thuận Paris. Tuy nhiên, ông Việt thừa nhận doanh thu trực tiếp từ tín chỉ hiện chưa đóng góp lớn vào cơ cấu tài chính của doanh nghiệp. Giá trị đáng kể hơn là uy tín môi trường và cơ hội tiếp cận các quỹ đầu tư, định chế tài chính, tín dụng xanh với lãi suất ưu đãi.

Từ kinh nghiệm này, ông Việt cho rằng đầu tư một dự án chỉ nhằm tạo tín chỉ để bán là bài toán khó khả thi. Chi phí tư vấn, đo đạc, thẩm tra và hoàn thiện hồ sơ còn lớn, đến mức doanh nghiệp ví von là “một tiền gà, ba tiền thóc” nếu chỉ tính doanh thu tín chỉ trong ngắn hạn. Theo ông, hợp lý hơn là đầu tư giảm phát thải ngay trong sản xuất, rồi nếu lượng giảm phát thải đủ điều kiện mới chuyển thành tín chỉ để tạo thêm nguồn thu.

Từ góc nhìn ngành sữa, PGS.TS Sử Thanh Long, Giám đốc Dự án sữa quốc tế Tập đoàn TH, cũng đặt trọng tâm vào giảm phát thải trước khi nghĩ tới bù đắp.

Theo ông Long, nếu doanh nghiệp sử dụng công nghệ lạc hậu, phát thải nhiều, khi các chính sách carbon được áp dụng sẽ phải mua lượng tín chỉ lớn hơn. Trong khi giá tín chỉ có thể biến động, phần chi phí này có khả năng tác động trực tiếp đến giá thành sản phẩm. Ngược lại, đầu tư công nghệ để giảm phát thải ngay từ đầu sẽ làm giảm lượng carbon cần bù đắp.

Mô hình nuôi bò sữa organic của Tập đoàn TH.
Mô hình nuôi bò sữa organic của Tập đoàn TH.

Muốn một sản phẩm được công nhận trung hòa carbon, theo ông Long, trước hết phải “cân, đong, đo, đếm” chính xác lượng phát thải, có hệ thống dữ liệu đủ tin cậy và được bên thứ ba độc lập kiểm chứng.

Từ nông nghiệp, sữa đến thép: Carbon trở thành bài toán cạnh tranh

Nếu với AgriS và TH, carbon đã gắn với sản phẩm và chuỗi sản xuất, thì ở ngành thép - lĩnh vực sử dụng nhiều năng lượng - sức ép chuyển đổi còn trực diện hơn.

Theo định hướng của Hiệp hội Thép Việt Nam, chuyển đổi xanh là một nhiệm vụ trọng tâm, bao gồm đổi mới công nghệ, nâng hiệu quả sử dụng năng lượng, tăng nguyên liệu tái chế, xây dựng tiêu chuẩn sản xuất xanh, phát triển nguồn nhân lực và giảm cường độ phát thải carbon.

Từ thực tế đó, Công ty TNHH MTV Thép Miền Nam - VNSTEEL đang từng bước nâng hiệu quả sử dụng năng lượng, tối ưu nguyên liệu, hoàn thiện hệ thống quản trị và dữ liệu phát thải, đồng thời chuẩn bị nhân lực cho yêu cầu quản trị carbon.

Doanh nghiệp sử dụng công nghệ lò điện hồ quang với thép phế liệu là nguyên liệu chủ yếu, qua đó có điều kiện tiếp tục phát huy mô hình sản xuất thép tuần hoàn.

Thông qua diễn đàn, Thép Miền Nam - VNSTEEL cho biết sẽ tiếp tục cập nhật các chính sách, công nghệ và kinh nghiệm về đo đạc, báo cáo và thẩm định (MRV), hạn ngạch phát thải, tín chỉ carbon và thị trường carbon.

Nhiên liệu sinh khối (biomas) dùng đốt lò hơi, giảm phát thải so với nhiên liệu hóa thạch.
Nhiên liệu sinh khối (biomass) dùng đốt lò hơi, giảm phát thải so với nhiên liệu hóa thạch.

Với doanh nghiệp thép này, chuyển đổi xanh không chỉ là câu chuyện cắt giảm phát thải mà còn gắn với đổi mới công nghệ, hiệu quả sản xuất và năng lực cạnh tranh dài hạn.

Ở góc nhìn nhà đầu tư, ông Nguyễn Ngọc Tùng, CFA, Quỹ VinaCarbon thuộc VinaCapital, cho rằng doanh nghiệp không nên chỉ đặt câu hỏi “bán tín chỉ carbon được bao nhiêu tiền”.

Theo ông Tùng, nếu doanh nghiệp xây dựng được hệ thống giảm phát thải có khả năng đo đếm, kiểm chứng và chứng minh minh bạch, năng lực đó có thể giúp tiếp cận vốn quốc tế với chi phí thấp hơn và kỳ hạn dài hơn. Tuy nhiên, nhà đầu tư vẫn phải xem xét chất lượng tín chỉ, khả năng giao dịch, hiệu quả kinh tế, tính bền vững và năng lực triển khai dự án.

Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Lê Công Thành nhấn mạnh, để thị trường carbon Việt Nam phát triển, Nhà nước cần kiến tạo thể chế và bảo đảm tính minh bạch; tổ chức tài chính cung cấp nguồn lực; tổ chức công nghệ cung cấp giải pháp; chuyên gia và đơn vị tư vấn góp phần nâng cao chất lượng dự án.

Quan trọng hơn, doanh nghiệp phải trở thành chủ thể trung tâm, chuyển từ tâm thế thực hiện nghĩa vụ giảm phát thải sang chủ động tạo ra giá trị từ giảm phát thải.

    Nổi bật
        Mới nhất
        Doanh nghiệp Việt tìm kiếm gì từ tín chỉ carbon?
        • Mặc định

        POWERED BY ONECMS - A PRODUCT OF NEKO