Cuộc cạnh tranh của các thương hiệu NPK trước vụ Đông Xuân
Nhu cầu sử dụng phân NPK bước vào cao điểm, khi Đồng bằng sông Cửu Long chuẩn bị cho vụ Đông Xuân, còn Tây Nguyên các loại cây công nghiệp và cây ăn quả bước vào giai đoạn sinh trưởng, ra hoa, đậu quả và nuôi trái. Thị trường NPK có sự cạnh tranh gay gắt giữa các "ông lớn" trong nước, các dòng hàng nhập khẩu cao cấp và sự vươn lên của phân bón hữu cơ/sinh học.

Thị trường phân NPK không chỉ cạnh tranh về giá
Ông Nguyễn Văn Tiến, chủ một cửa hàng vật tư nông nghiệp (VTNN) tại Tân Châu, An Giang, cho biết, trong tháng 10 này chỉ có phân NPK Việt Nhật (16-16-8+12S) tăng khoảng 1.000 đồng/kg so với cuối tháng 9. Cụ thể, giá tăng từ mức 17.000 – 18.000 đồng/kg (loại bao 50kg), lên 18.000 – 19.000 đồng/kg.
Theo khảo sát của phóng viên Nông Thôn Việt trong ngày 16/10 tại các cửa hàng VTNN ở nhiều địa phương, giá các loại phân NPK duy trì ở mức cao. Tại các tỉnh Tây Nam Bộ, phân NPK 16-16-8 của các doanh nghiệp nhe Phú Mỹ, Cà Mau duy trì ở mức 600.000 – 640.000 đồng/bao (50kg/bao), của Việt Nhật cao hơn bình quân 10.000 đồng.
Khu vực Đông Nam Bộ và Tây Nguyên, sản phẩm này cũng không tang giá trong thời gian gần đây, nhưng có sự chênh lệch nhất định về giá bán lẻ giữa các thương hiệu. Phân NPK 16-16-8 của Cà Mau dao động từ 660.000 – 750.000 đồng/bao, Phú Mỹ từ 650.000 – 750.000 đồng/bao, Đầu Trâu từ 670.000 – 750.000 đồng/bao.
Hiện thị trường NPK phân hóa thành 3 nhóm. Nhóm “ông lớn" trong nước như Bình Điền - Đầu Trâu, PVFCCo - Phú Mỹ, PVCFC - Cà Mau, Lâm Thao. Các doanh nghiệp này sở hữu hệ thống phân phối rộng khắp đến tận cấp đại lý làng xã; tiềm lực tài chính mạnh; độ nhận diện thương hiệu cao và gắn bó lâu năm với nông dân.
Trước vụ Đông Xuân, các doanh nghiệp này đẩy mạnh các dòng công nghệ cao (NPK tháp cao, NPK vi sinh, NPK bổ sung TE/Humic) để giảm thất thoát, tăng hiệu quả hấp thụ trong điều kiện mùa khô. Các doanh nghiệp này cũng liên tục tung ra chính sách chiết khấu, bảo lãnh giá và hỗ trợ tín dụng cho các đại lý VTNN để đăng ký sản lượng từ sớm.
Nhóm các sản phẩm nhập khẩu gồm Yara, Behn Meyer, Haifa, NPK Nhật Bản/Hàn Quốc với thế mạnh là chất lượng hạt đồng đều, độ tan hoàn toàn, bổ sung đầy đủ vi lượng kiềm/trung lượng. Đây là nhóm được đánh giá là sản phẩm cao cấp, nên thường có xu hướng tập trung mạnh vào nhóm cây công nghiệp giá trị cao (sầu riêng, cà phê, hồ tiêu) và vùng rau màu chuyên canh. Mặc dù giá cao hơn NPK nội địa từ 15 – 30%, nhóm này vẫn giữ vững tệp khách hàng quy mô lớn nhờ hiệu quả tăng năng suất và chất lượng nông sản xuất khẩu.
Nhóm sản phẩm từ các doanh nghiệp nhỏ, các cơ sở sản xuất NPK phối trộn như 3 lá xanh, Con Cò, Stoller... thường có giá bán rẻ hơn, linh hoạt về công thức theo từng vùng thổ nhưỡng nhỏ. Các sản phẩm này thường cạnh tranh bằng giá và hoa hồng đại lý cao để chen chân vào các vùng nông thôn sâu, khu vực trồng lúa/hoa màu quy mô hộ gia đình.
Nông dân giữa cuộc chiến kênh phân phối của doanh nghiêp
Hiện các "ông lớn" như PVFCCo, PVCFC hay Bình Điền có lợi thế lớn khi đưa ra chính sách gối đầu vốn, gối đầu sản phẩm hoặc bảo hiểm giá. Các đại lý thường ưu tiên nhập hàng từ các hãng có chính sách hỗ trợ bán hàng linh hoạt, thưởng doanh số cao và cam kết không đứt gãy nguồn cung giữa vụ.
Trước vụ Đông Xuân, nhóm thương hiệu NPK nội địa (Bình Điền, Phú Mỹ, Cà Mau) vẫn nắm thế chủ động ở mảng cây lương thực (lúa, ngô) và diện tích lớn nhờ năng lực cung ứng khổng lồ và hệ thống phân phối vững chắc. Trong khi đó, nhóm NPK nhập khẩu (Yara, Behn Meyer...) tiếp tục làm chủ phân khúc cây ăn trái xuất khẩu và nông nghiệp công nghệ cao.
Theo tìm hiểu của chúng tôi, nông dân ngày càng tinh ý trong việc lựa chọn hạt phân. Các dòng NPK Tháp cao (High Tower) của Bình Điền, Phú Mỹ hay Yara với hạt phân tròn, bóng, tan nhanh và không vón cục đang được ưa chuộng hơn dòng NPK vo viên truyền thống.
Anh Nguyễn Văn Hưng, hộ trồng hồ tiêu và cà phê tại Đắk Lắk, cho biết qua nhiều năm, anh thử sản phẩm NPK 16-16-8 của nhiều nhà sản xuất khác nhau. Dù cùng chủng loại nhưng chất lượng, tác dụng với cây trồng có sự khác nhau. Chẳng hạn, NPK 16-16-8 Đầu Trâu bán phổ biến tại địa phương, hạt phân đều, tan tốt, ít cục vón. Sau khi bón hai tuần, cây tốt, lá xanh đều. Trong khi đó, hạt NPK của Việt Nhật to hơn, tan chậm hơn và ít bị rửa trôi khi mưa nhiều nên phù hợp bón lót hơn. Do đó, người nông dân nên để ý trong quá trình canh tác, nếu được thì ghi chép chứ đừng chỉ nghe theo đại lý, cửa hàng tư vấn.
“Như tôi, bây giờ với cà phê nên dùng Việt Nhật bón lót đầu mùa mưa, Đầu Trâu bón thúc giữa vụ”, anh Hưng chia sẻ.
Tương tự, anh Tùng, nông dân trồng cà phê tại Di Linh, Bình Thuận cho biết, nếu chỉ nhìn vào các số như 30-10-10, 20-20-15, hay 10-30-10, 15-5-20 trên các bao phân NPK dễ khiến nông dân rối não. Và mua về dùng mà không tìm hiểu vừa tốn tiền, vừa không phát huy được đúng tác dụng. Theo anh Tùng, N (đạm) tác dụng giúp cây phát triển thân, cành, lá sum suê; P (lân) kích thích bộ rễ phát triển, hỗ trợ quá trình ra hoa, đậu quả; K (kali) giúp cây cứng cáp, tăng khả năng chống chịu sâu bệnh, thời tiết bất lợi và quan trọng là nâng cao chất lượng nông sản (quả to, ngọt, màu đẹp...).
Mỗi giai đoạn cây sẽ có nhu cầu dinh dưỡng khác nhau. Giai đoạn cây con mới trồng, phát triển thân lá nên cần nhiều đạm (N), nên phù hợp với các loại NPK có tỷ lệ đạm cao như NPK 30-10-10, NPK 20-20-15, hoặc các loại phân có hàm lượng N vượt trội.
Giai đoạn chuẩn bị ra hoa, tạo mầm hoa cây cần nhiều lân (P) để nảy mầm, giúp hoa ra nhiều và đồng loạt. Các loại NPK giàu lân như NPK 10-30-10, NPK 10-50-10, NPK 15-30-15 sẽ phù hợp hơn.
Với giai đoạn nuôi quả, củ, hạt sẽ cần nhiều kali (K). Kali giúp quả lớn nhanh, tăng độ ngọt, màu sắc đẹp, củ to, hạt chắc. Do đó phân NPK có kali cao như NPK 15-5-20, NPK 13-13-21, NPK 12-12-18 sẽ phù hợp.


