Chăn nuôi nhỏ lẻ tồn tại thế nào trước hàng loạt ông lớn?
Từ con giống, thức ăn, đến giá bán heo thịt hiện nay, hộ chăn nuôi hầu như phụ thuộc vào các doanh nghiệp chăn nuôi hay sản xuất thức ăn chăn nuôi. Chăn nuôi nhỏ lẻ gần như không còn ảnh hưởng nhiều đến thị trường như trước.

Chăn nuôi nhỏ lẻ teo tóp dần
Vừa xuất bán hơn 100 con heo thịt với giá 46.000 đồng/kg, ông T.Đ.P, hộ chăn nuôi tại xã Gia Kiệm, Thành phố Đồng Nai, cho biết sau khi cộng chi phí con giống, thức ăn, thú y…, giá thành mỗi kg heo nuôi khoảng 53.000 đồng, như vậy, mỗi kg heo xuất chuồng, ông lỗ khoảng 7.000 đồng/kg.
Theo ông P và một số chủ trại trong xã, nghề nuôi heo ngày càng phụ thuộc vào các công ty chăn nuôi lớn như CP, Deheus, Green Feed… Heo giống, thức ăn mua của các công ty này khi xuất chuồng thường đỡ bị thương lái ép giá hơn. Nếu tự gây nái, sử dụng cám tự pha trộn, thương lái thường lấy lý do chê heo không đạt, mông nhỏ, da không hồng hào, tỉ lệ nạc thấp… và trả giá thấp hơn ít nhất 1.000 đồng/kg.
“Giá heo thịt trên thị trường hiện nay cũng phụ thuộc rất lớn vào giá bán ra tại trại heo của các công ty chăn nuôi lớn. Người nuôi heo chúng tôi thường tham khảo giá các công ty trước khi quyết định bán…”, ông P cho hay.
Ông Nguyễn Văn Trình, hộ nuôi heo tại Củ Chi, TP.HCM cho biết, trước đây đàn heo gần 20 con của gia đình ông nuôi chủ yếu nhờ nguồn thức ăn dư thừa thu gom từ các bếp ăn tập thể, nhà hàng trong khu vực. Chi phí nuôi nhờ đó cũng thấp hơn, tuy nhiên với giá bán heo như hiện tại (46.000 – 47.000 đồng/kg), ông cũng chỉ lấy công làm lời.
Giá heo thịt trong khoảng một tháng trở lại đây giảm khoảng 1.000 đồng/kg càng tạo áp lực lớn cho người chăn nuôi. Ngoài các nguyên nhân như: do ảnh hưởng bởi nguồn thịt nhập khẩu; nhu cầu tiêu dùng thịt heo giảm do tâm lý lo ngại mất an toàn sau khi hàng loạt lô heo bị phát hiện sử dụng chất tạo nạc…, còn có ý kiến cho rằng, nguồn heo quá lớn từ các doanh nghiệp chăn nuôi khiến cung vượt cầu.
Hướng nào cho người chăn nuôi nhỏ lẻ?
TS. Nguyễn Quốc Đạt, Phó chủ tịch Hội Chăn nuôi Việt Nam, hiện 29 doanh nghiệp chăn nuôi lớn (CP Group, Dabaco, Masan, Green Feed, De Heus, Mavin, ...) sở hữu 9,58 triệu con heo (30,5% tổng đàn), số lượng heo ná cũng hơn 1 triệu con (31,8% tổng đàn nái cả nước), xuất 25,74 triệu heo thịt (44,4% sản lượng thịt heo). Chăn nuôi trang trại và công nghiệp chiếm hơn 45% tổng đàn; sản xuất chiếm hơn 60% sản lượng thịt. Các doanh nghiệp đều sản xuất theo chuỗi khép kín: Con giống – thức ăn – chăn nuôi – giết mổ - chế biến – phân phối.
Các công ty chăn nuôi sẽ tiếp tục mở rộng thị phần, đặc biệt các công ty có chuỗi khép kín từ đầu vào đến đầu ra. Các công ty cám cũng có xu hướng tổ chức tự nuôi nhiều hơn để giữ thị phần cám hoặc liên kết với các trại theo hướng cung ứng giống, cám, bao tiêu đầu ra. Còn với các hộ chăn nuôi/trang trại nhỏ lẻ sẽ tiếp tục giảm do chi phí chăn nuôi cao, trong khi rủi ro dịch bệnh lớn.
Theo TS Nguyễn Quốc Đạt, chăn nuôi nhỏ lẻ vẫn giữ những vai trò nhất định như: Tạo sinh kế và việc làm, tận dụng tối đa nguồn lao động nhàn rỗi (lao động phụ và người lớn tuổi) để tăng thu nhập gia đình; giảm nghèo bền vững, cung cấp nguồn thu nhập đều đặn, cải thiện đời sống cho hộ gia đình nông thôn; cung cấp thực phẩm thiết yếu (thịt, trứng, sữa) tại chỗ và tươi cho cộng đồng dân cư địa phương; tận dụng phế, phụ phẩm nông nghiệp (rơm rạ, TĂ thừa, rau củ quả) làm thức ăn chăn nuôi và phân bón hữu cơ; giữ gìn đa dạng sinh học và lưu giữ các giống vật nuôi bản địa, quý hiếm; tính linh hoạt cao, dễ điều chỉnh quy mô theo biến động thị trường…
Tuy nhiên, chăn nuôi nhỏ lẻ đang đối diện với hàng loạt thách thức: An toàn dịch bệnh thấp, rủi ro cao. Ít được hỗ trợ và cung cấp thông tin về dịch bệnh, về thị trường (2,2% trang trại áp dụng đồng bộ chăn nuôi an toàn sinh học). Hệ thống sản xuất không đồng bộ, năng suất thấp, giá thành chăn nuôi cao. Nguồn lực về vốn và cơ sở vật chất rất thấp. Chính sách hỗ trợ chưa đáp ứng nhu cầu thực tế. Khả năng chống chọi với những khó khăn rất thấp…
Để có thể tăng sức cạnh tranh, ông Đạt cho rằng, hộ nuôi nhỏ lẻ nên áp dụng an toàn sinh học, tiêm phòng đầy đủ, quản lý con giống tốt, chuồng trại cách ly đảm bảo an toàn dịch bệnh. Tìm cách giảm chi phí đầu vào và quản lý thức ăn bằng cách tận dụng phế phụ phẩm nông, công nghiệp sẵn có, tự sản xuất và phối trộn thức ăn; ủ chua và dự trữ thức ăn; liên kết chuỗi và ổn định đầu ra bằng cách tham gia tổ hợp tác/hợp tác xã để liên kết với nhau, ký hợp đồng bao tiêu với doanh nghiệp, chuỗi thực phẩm sạch, bếp ăn công nghiệp. Bên cạnh đó, hộ nuôi cần xử lý môi trường và quản lý tài chính: Không chạy theo số đông, tái đàn ồ ạt, dự trữ tài chính đủ (3-6 tháng thức ăn).
Báo cáo Key Performance Indicators in Pork Production: An International Comparison Using 2024 Data được MSD Animal Health công bố mới đây: Việt Nam thuộc nhóm có chi phí sản xuất heo cao, nhưng vẫn đạt kết quả lợi nhuận nổi bật trong năm 2024 nhờ giá heo thương phẩm cao.
Theo báo cáo, số liệu khảo sát từ các trang trại thương mại hiện đại cũng cho thấy, thức ăn chiếm tới 63,5% tổng chi phí sản xuất heo tại Việt Nam. Đây là bất lợi đáng kể khi giá thức ăn chăn nuôi phụ thuộc đáng kể vào nguồn nhập khẩu và các chi phí liên quan. Một số ý kiến tại Việt Nam cho rằng, lợi nhuận chủ yếu chảy vào “túi” của các công ty chăn nuôi, sản xuất thức ăn chăn nuôi.
