Bài 5 | Hưng Điền - vùng đất “buộc phải dừng chân”
Những cựu binh già dần khuất bóng. "Chiến dịch 500 ngày đêm đẩy mạnh thực hiện tìm kiếm, quy tập và xác định danh tính hài cốt liệt sĩ” hối thúc đất nước phải hành động từng giờ. Hưng Điền hiện lên như một lát cắt nhức nhối giữa quá khứ bi tráng và hiện tại dở dang: dưới bùn lầy còn vùi sâu xương máu; trên mặt ruộng, hạt lúa trôi dạt vô danh, lớp trẻ ôm bằng đại học đi biệt xứ. Loạt bài của chúng tôi nhằm đi tìm lời giải cho một "vùng trắng" thời bình...

Loạt bài: Hưng Điền: Hơn nửa thế kỷ chờ người về "vùng trắng"
Bài 1 | Ngôi đền chưa xây ở vùng đất nhớ
Bài 2 | Hưng Điền & trận Trâu Len: Lời kể từ 'người biết chuyện'
Bài 3 | Người già ở Hưng Điền: "Tôi từng bốc 80 bộ hài cốt một ngày”
Bài 4 | Gặp người trực tiếp cầm quân trận Trâu Len
Bài 5 | Hưng Điền - vùng đất “buộc phải dừng chân”
Kể đến đoạn kết của trận Trâu Len, giọng ông Tư Thương thong thả hơn, đúng với nhịp điệu của câu chuyện sau một phen đụng độ căng thẳng. Trong lối văn nói chân chất của bậc lão niên Nam Bộ, từng diễn biến được thuật lại vẫn dày đặc thuật ngữ quân sự. Ông mô tả mọi lẽ, làm sáng rõ mọi chi tiết có thể mù mờ với một người không rành về lịch sử, chiến tranh và quân sự. Óc tổ chức và sự chuẩn xác của một bậc chỉ huy trận mạc vẫn thấm đẫm trong cách ông nhớ và kể.
'Người dân ở đó thương cách mạng'
Và cũng trong cái mạch đó, ông hé lộ:
- Có chuyện này bây giờ tui mới nói. Hồi đó mình bắt sống được rất ít, mà phần lớn đám Trâu Len là chết tại trận. Vì thế trận hiểm hóc, mình cũng không thể có lựa chọn nào nhân đạo hơn. Và cũng vì nó ác quá. Anh em mình xuống Vùng 4 hồi đó không ai mà không khiếp đảm, căm hận. Thân xác đồng đội bị chúng giết nằm ngổn ngang khắp đồng. Cứ thấy một đám cỏ cháy mà chạy lại thì thể nào cũng thấy xương cốt người. Tới mức độ như vậy đó. Khó mà tha thứ nổi. Vậy nên lúc tàn trận rồi, có những thằng chạy thoát vào căn cứ tiểu đoàn mình đầu hàng thì mình tha, coi như bắt sống…
Vì căn cứ địch không nắm được thông tin nên sau trận đánh, Tiểu đoàn 504 thong thả thu dọn chiến trường. Biệt kích Trâu Len vốn trang bị rất gọn nhẹ. Thắng trận, Tiểu đoàn 504 thu được chừng 50 súng. Trong đó phần lớn là súng đại liên, một ít súng trung liên.

Hoàn thành nhiệm vụ, họ rút về khu phố Tà Nu trên đất Campuchia để họp rút kinh nghiệm, sẵn sàng nhận nhiệm vụ mới. Ông Tư Thương rời khỏi Vùng 4. Con kinh Nguyễn Văn Trỗi đã ám vào tâm trí ông với hình ảnh “chỉ rộng chừng 4 thước, bên trên trụi lủi không một bóng cây, bên dưới cỏ rác rậm rạp, như một con kinh hoang”…
Tôi nói:
- Giờ con kinh được mở rộng hơn rồi, xung quanh là đồng lúa, nhìn thanh bình lắm ông Tư.
Ông cười hiền:
- Ừ, có nghe nói. Nghe nói dưới cũng có được cái bia. Dân mình dưới đó rành đám Trâu Len mà, dù sau này không ai kể thì người dân họ cũng tự nhắc…
Ông Tư Thương nói đúng. Trước khi đến gặp ông, chúng tôi đã nghe khá đầy đủ về đoàn biệt kích Trâu Len. Hình ảnh của họ và bối cảnh của trận đánh đã tạm đủ để trở thành một câu chuyện truyền miệng hoàn chỉnh, có thể truyền từ đời này sang đời khác. Chỉ khác, chuyện kể từ ông Tư Thương thì chi tiết hơn, thế trận được nhìn cận cảnh hơn, và khả tín với mọi mục đích thông tin.
Chỉ lạ, là hơn nửa thế kỷ không trở lại, nhưng những gì ông Tư Thương nói về người Hưng Điền lại như một mảnh ghép vừa in trong câu chuyện mà người Hưng Điền đã tự kể về xóm làng của họ.
“Người dân ở đó thương cách mạng”, ông Tư Thương nói.
Tiểu đoàn 504 từng ở trong nhà dân, được dân nuôi. Khi bom đạn buộc dân phải ra ấp chiến lược, mỗi mùa nước họ vẫn trở về đồng làm ăn; xuồng phải cắm cờ ba sọc để máy bay nhận diện, phải đi và về đúng giờ quy định. Nhưng chính trên những chiếc xuồng ấy, mỗi người lại mang theo một ít lương thực, thuốc men để tiếp tế cho bộ đội. Ngay cả trên đường đi đánh trận Trâu Len, người dân cũng nối gót bộ đội để tát cá mưu sinh. Từng diễn biến chiến tranh ở vùng đất này không tách biệt giữa dân và bộ đội.
Chúng tôi đã chứng kiến những người ở lại Hưng Điền nhớ lính. Giờ lại chứng kiến người lính đã đi gần 60 năm vẫn nhớ và tin tưởng Hưng Điền, dù ông Tư Thương không một lần dùng từ “son sắt”. Đó là ông còn chưa biết ở đó bây giờ vẫn còn những người “hễ nghe báo tin là đi” tìm nhận hài cốt liệt sĩ. Và có người suốt 30 năm miệt mài đề xuất xây khang trang khu tưởng niệm về khu vực kinh Nguyễn Văn Trỗi này…
'Mình là người địa phương thì thấy cũng ái ngại'
Có một chi tiết khiến chúng tôi ấn tượng với những người lãnh đạo xã Hưng Điền bây giờ. Lúc ông Tư Thành, ông Nghiêm, ông Khanh ngồi kể chuyện xưa, anh Trần Quốc Cường - Phó Chủ tịch xã Hưng Điền cũng ngồi nghe với chúng tôi trong vai vế con cháu. Đến khi câu chuyện của người già đã đủ dày dặn, anh Cường nói:
- Thật lòng cũng muốn làm một nơi tưởng niệm khang trang để những cựu chiến binh, hoặc người thân của liệt sĩ có ghé đến hành hương thì thấy ấm lòng, thấy người dân Hưng Điền cũng có lòng với những hi sinh của họ. Như giờ, đến thăm khu tưởng niệm không có một chỗ che nắng che mưa, muốn ngồi nghỉ chân cũng không có chỗ. Hoặc muốn thăm chiến trường xưa ở đây cũng không có một trạm dừng nghỉ chân. Mình là người địa phương thì thấy cũng ái ngại…
.png)
Ý đó khiến chúng tôi đồng cảm. Nhưng giờ tôi nhận ra, dường như anh Cường nói chưa đủ. Trận Trâu Len, trận Láng Biển, trận đánh đã làm xóa sổ Trung Đoàn 88 hay hàng trăm ngàn trận càn quét, sục sạo, đụng độ súng đạn trên vùng đất này chưa bao giờ là chuyện của riêng quân hay dân. Nó đã xảy ra với tất cả. Tất cả họ đã cùng đối diện, chiến đấu, và đi qua. Để rồi người thì rời đi, người thì ở lại, theo mọi nghĩa. Việc tưởng niệm hay ghi ơn lúc này đã không còn là nghĩa cử của một bên (người Hưng Điền) với bên còn lại (những người lính). Nó là những quẫy đạp khôn nguôi trong ký ức tập thể, mà chính người dân Hưng Điền cũng thấy cần thiết cho đời sống tinh thần của họ, cho hồn thiêng sông nước xứ họ. Vậy nên, nếu chỉ xét riêng ở sự ghi công, nhớ ơn, sẽ mãi mãi không lý giải nổi động lực đã khiến những người trai đã về già ở vùng đất khô cháy vẫn mãi mãi kêu đòi một “khu tưởng niệm khang trang”.
Tôi hỏi ông Tư Thương:
- Theo ông thì vì sao mà người dân ở khu vực Kinh Nguyễn Văn Trỗi thương cách mạng?
Ông Tư Thương không trả lời ngay, ông kể:
- Cháu cứ hình dung hồi nhỏ, cứ dăm bữa là ba tui cho tui lên đòn gánh, một đầu gánh đồ, một đầu gánh tui, chạy trốn - rồi như thấy ánh mắt tôi có vẻ ngơ ngác, ông nói - Thì Tây nó vô. Nó đánh người. Nó đốt nhà, phải chạy trốn chớ. Tôi quê ấp Trung, xã Tân Hòa, Tân Thạnh, Kiến Tường; cũng dân Đồng Tháp Mười đây. Vùng 4 cũng xứ tui đó. Xứ tui gắn bó với cách mạng từ thời đánh Pháp. Xã Nhơn Hòa Lập còn có Khu di tích lịch sử Căn cứ Xứ ủy và Ủy ban Hành chính - Kháng chiến Nam Bộ mà. Cái gốc hồi xưa giờ nó vậy rồi…
Ông Tư Thương nói đến đây thì có một người phụ nữ lớn tuổi đi từ sau nhà lên, giọng đon đả:
- Anh Tư có nhớ không, hồi đó tụi tui đi khiêng mấy anh dưới đó là máy bay nó bắn xối trên đầu. Nó bắn dài dài dọc đường. Mình đi dưới sậy đế này chứ nó bay trên đầu mình không đó. Chỉ có trận Trâu Len là không có máy bay mà mình cũng ít bị thương…
Sau một buổi chiều chuyện trò, đến giờ chúng tôi mới biết trong căn nhà này có một nhân chứng khác của trận Trâu Len, đó là chiến sĩ quân y Võ Thị Bé Hai - vợ của ông Tư Thương. Bà Bé Hai cũng gần 80 tuổi, nhưng dáng vẻ vẫn lanh lẹ, trí nhớ còn sáng rõ. Bà đi Thanh niên xung phong năm 1964, sau đó chuyển qua tiểu đoàn 504, và tham gia trận Kinh Nguyễn Văn Trỗi với vai trò y tá chiến trường. Bà nên duyên vợ chồng với vị chỉ huy tiểu đoàn vào năm 1970.

Trong lúc bộ đội chiến đấu ở đầu kinh Nguyễn Văn Trỗi thì bà Bé Hai đã đi theo ra tới ngọn Sông Trăng. Nghe nổ súng, các nữ y tá vượt lên để xem có thương binh thì khiêng về. Anh em bị trúng thương sẽ hô lên “dũng cảm”. Đó là mật hiệu để các cô y tá quân y chạy ra ứng cứu.
"Ai đi qua đó cũng phải dừng một cái rồi mới đi đâu thì đi'
Cũng giống ông Tư Thương, tất cả những gì bà Bé Hai còn biết về Vùng 4 và con kinh Nguyễn Văn Trỗi đều là ký ức từ 58 năm trước. Họ chưa từng trở lại. Nói tới ý này, mắt bà Bé Hai sáng lên như một phát hiện:
- Mà hồi đó chỗ Kinh Nguyễn Văn Trỗi đó là điểm dừng đó chứ anh Tư. Ai đi qua đó cũng phải dừng một cái, rồi mới đi đâu thì đi.

Nghe vậy, ông Tư ôn tồn:
- Chính là vậy đó. Hồi đó người đi từ biên giới xuống cũng phải trụ ở vùng này. Người đi từ chiến trường về cũng phải trụ ở đây rồi mới đi tiếp. Bọn Mỹ thì dừng đây để chặn mình. Thành ra cả 2 bên đều tập trung lực lượng ở đây, mình thì kiên quyết giữ đường, Mỹ kiên quyết tạo vùng trắng. Vậy mới tạo nên cái thế ác liệt.
“Cái thế ác liệt” trong lời vị lính già làm tôi nhớ đến thao thức của anh vị Phó Chủ tịch UBND xã Hưng Điền Trần Quốc Cường. Rằng, “giờ người ta đến khu tưởng niệm thì không có chỗ ngồi, đến thăm Hưng Điền thì không có điểm dừng chân”.
Vậy là, một vùng đất từng buộc người ta phải dừng lại, nay lại không có chỗ cho những người tìm về dừng chân.
(Còn nữa)
Bài 6: Những cuộc ra đi ở Hưng Điền

