Vỏ tôm có thể đem lại tỉ USD mỗi năm
Vỏ tôm vốn là phụ phẩm bỏ đi nhưng khi được đưa vào chuỗi chế biến sâu có thể đem lại giá trị kinh tế cao, đồng thời hình thành hệ sinh thái kinh tế tuần hoàn bền vững.
Dư địa lớn từ đầu và vỏ tôm
Tại các nhà máy chế biến thủy sản, sau khi phần thịt tôm được đưa đi chế biến, một lượng lớn đầu và vỏ còn lại cần được xử lý. Tuy nhiên, tại Công ty CP Việt Nam Food (VNF), phần nguyên liệu này lại là điểm bắt đầu của một quy trình sản xuất khác.
Theo đó, mỗi năm VNF tiếp nhận và xử lý khoảng 35.000 - 50.000 tấn phụ phẩm tôm. Từ nguồn đầu và vỏ này, doanh nghiệp thu được khoảng 10.000 - 12.000 tấn peptide (chuỗi axit amin ngắn tạo ra từ protein), hơn 2.000 tấn nguyên liệu thực phẩm và khoảng 800 - 1.000 tấn chitin, chitosan (các hợp chất sinh học được chiết xuất chủ yếu từ vỏ tôm, cua).

Các thành phần sau khi phân tách được đưa vào làm nguyên liệu cho nhiều ngành công nghiệp khác nhau. Trong đó, peptide cùng một số dưỡng chất được phát triển làm thực phẩm, thức ăn chăn nuôi và sản phẩm chăm sóc thú cưng; còn chitin, chitosan cùng các dẫn xuất được ứng dụng trong bảo quản nông sản, trồng trọt, mỹ phẩm chăm sóc cá nhân và công nghiệp.
Chia sẻ tại Diễn đàn Đối tác công tư thúc đẩy kinh tế tuần hoàn ngành tôm khu vực Đồng bằng sông Cửu Long vừa diễn ra tại Cần Thơ, bà Trần Đào Hồng Ngọc, Giám đốc Kinh doanh VNF, cho biết công nghệ sinh học chính là chìa khóa giúp doanh nghiệp khai thác hiệu quả nguồn tài nguyên này.
Theo bà Ngọc, thay vì thu gom phụ phẩm rồi mới thụ động đi tìm đầu ra, VNF chủ động xây dựng quy trình bài bản từ khâu chuẩn bị nguyên liệu, nghiên cứu công nghệ, sản xuất cho đến phát triển ứng dụng và thương mại hóa. Định hướng cốt lõi là thu hồi tối đa lượng dưỡng chất sẵn có, đồng thời giảm thiểu tối đa phát thải trong quá trình chế biến.
Nhờ áp dụng giải pháp này, tỷ lệ thu hồi dưỡng chất của VNF đạt khoảng 80%, vượt trội so với mức khiêm tốn khoảng 4% của phương pháp sản xuất chitin truyền thống. Phương pháp này cũng giúp cắt giảm 60% lượng hóa chất sử dụng và tiết kiệm 70% chi phí xử lý nước thải.

Kinh tế tuần hoàn mở dư địa tỉ USD cho phụ phẩm nông nghiệp
Từ câu chuyện đầu và vỏ tôm, bà Ngọc mở rộng vấn đề ra nguồn phụ phẩm lớn hơn của toàn ngành thủy sản và nông nghiệp. Dẫn số liệu nghiên cứu từ VIG, bà Ngọc chỉ ra sự chênh lệch rất lớn giữa giá trị thô ban đầu và giá trị thực sự có thể thu về nếu áp dụng công nghệ chế biến sâu.
Riêng trong lĩnh vực thủy sản, tổng lượng phụ phẩm phát sinh từ các nhóm chính đã vượt 1 triệu tấn mỗi năm. Trong đó, phụ phẩm cá tra chiếm khoảng 250.000 tấn, tôm khoảng 100.000 tấn, cá ngừ khoảng 17.800 tấn, phần còn lại đến từ mực, cua và các nhóm thủy sản khác.
Nếu chỉ dừng lại ở dạng thô hoặc bán cho các mục đích giá trị thấp, nguồn nguyên liệu này chỉ thu về khoảng 150 triệu USD. Tuy nhiên, nếu được đưa vào chuỗi chế biến tuần hoàn để chiết xuất các hợp chất cao cấp như peptide, collagen, chitin, chitosan hay omega-3, giá trị thu về có thể tăng gấp 20 lần, vượt mốc 3 tỉ USD.
Ở quy mô rộng toàn ngành nông nghiệp, lượng phụ phẩm phát sinh từ vỏ trấu, vỏ cà phê, bã mía, bã đậu nành... đạt con số khổng lồ hơn 160 triệu tấn/năm. Giá trị thô hiện tại ước tính khoảng 2 tỉ USD, nhưng nếu được khai thác và chuyển hóa bài bản thành các sản phẩm mới, quy mô ngành có thể nâng lên gấp 5 lần, đạt tới 10 tỉ USD.
Cần chiến lược phát triển dài hạn
Bà Ngọc cho rằng, để khoảng trống hàng tỉ USD từ phụ phẩm không chỉ dừng ở tiềm năng cần có định hướng phát triển rõ ràng, đồng thời cần hình thành cơ chế phối hợp giữa Nhà nước, viện, trường và doanh nghiệp.
Trong đó, Nhà nước giữ vai trò định hướng phát triển ngành, xây dựng khung pháp lý, tiêu chuẩn và cơ chế giám sát phù hợp. Viện, trường đảm nhiệm nghiên cứu, phát triển công nghệ và ứng dụng mới. Còn doanh nghiệp là nơi đưa công nghệ vào sản xuất quy mô lớn, hoàn thiện sản phẩm và thương mại hóa ra thị trường.
Đặc biệt, việc thu gom và khai thác tốt nguồn nguyên liệu này còn góp phần giảm lượng chất thải phải xử lý, tạo thêm giải pháp cho nhiều ngành sản xuất, đồng thời mở ra các sản phẩm dinh dưỡng có khả năng tiếp cận rộng hơn.
