TPHCM: Chuỗi cung ứng nhiều ngành hàng chủ lực bị đứt gãy vì căng thẳng Trung Đông
Cước vận tải tăng cùng tình trạng khan hiếm container rỗng đang giáng đòn mạnh vào chuỗi cung ứng, đe dọa trực tiếp đến các ngành xuất khẩu chủ lực của TP.HCM.

Trong văn bản trả lời báo chí tại buổi họp báo về tình hình kinh tế - xã hội TP.HCM ngày 5/3/2026, Ban Quản lý các khu chế xuất và công nghiệp TP.HCM (HEPZA) cùng Sở Công Thương đã đưa ra bức tranh toàn cảnh về những khó khăn mà cộng đồng doanh nghiệp đang phải đối mặt trước làn sóng căng thẳng tại khu vực Trung Đông.
Làn sóng cước phí và ‘nút thắt’ logistics
Theo số liệu từ HEPZA, TP.HCM hiện có 66 khu chế xuất, khu công nghiệp đã có quyết định thành lập với quy mô hơn 27.270 ha. Trong số 58 khu đang hoạt động, có tới 4.689 dự án cùng hơn 300 dự án thuộc doanh nghiệp chế xuất.
Đóng góp của khối này vào nền kinh tế là rất lớn, với ước tính năm 2025 tổng doanh thu đạt 80 tỷ USD, trong đó kim ngạch xuất khẩu chạm mức 48,4 tỷ USD và nhập khẩu là 36,6 tỷ USD.
Dù kim ngạch xuất nhập khẩu trực tiếp qua các nước vùng Trung Đông chỉ chiếm tỷ trọng nhỏ, khoảng 3% đến 5%, song "sức khỏe" của các doanh nghiệp lại gắn chặt với thị trường quốc tế cả về đầu ra lẫn nguồn cung nguyên vật liệu. Do đó, cuộc khủng hoảng tại Biển Đỏ và việc đóng cửa eo biển Hormuz đã tạo ra những dư chấn nặng nề.
Sở Công Thương TP.HCM cũng cho biết, sự gián đoạn luồng hàng qua Biển Ả Rập khiến lưu lượng tàu giảm mạnh. Nhiều hãng tàu lớn phải tạm ngưng hoặc chuyển hướng đi vòng qua Mũi Hảo Vọng (Nam Phi). Lộ trình này khiến thời gian vận chuyển tuyến TP.HCM - châu Âu bị kéo dài thêm 7 đến 10 ngày, thậm chí các doanh nghiệp nhập khẩu từ EU qua tuyến Biển Đỏ đánh giá có thể mất thêm 3 đến 4 tuần.
Sự chậm trễ này kéo theo cuộc khủng hoảng về logistics. Tàu chu chuyển chậm dẫn đến tình trạng khan hiếm container rỗng trầm trọng tại các cảng của TP.HCM. Hàng hóa sản xuất xong không thể xuất đi, khiến hệ thống kho bãi bến cảng quá tải, phát sinh thêm chi phí quản lý và bảo quản.
Ngoài cước vận tải đội lên chóng mặt, doanh nghiệp còn đang phải gánh thêm các loại "phụ phí rủi ro chiến tranh" và "phụ phí chuyển hướng hành trình".
Điện tử, dệt may và thủy sản thấm đòn
Qua rà soát sơ bộ của HEPZA, những nhóm ngành chịu ảnh hưởng nặng nề nhất là hóa chất, sản phẩm từ dầu mỏ, điện tử, may mặc và thủy hải sản.
Cụ thể, ngành điện tử và linh kiện đang đối mặt với sự thiếu hụt chip và linh kiện bán dẫn nhập khẩu từ châu Âu. Trong khi đó, ngành may mặc và giày da lại nơm nớp nỗi lo bị đối tác EU hủy các đơn hàng mùa hè do không thể cam kết thời gian giao hàng đúng hạn.
Tình cảnh của nhóm thực phẩm và thủy hải sản tươi sống, đông lạnh càng thêm phần bi đát. Nhiều lô hàng chủ lực như tôm, cá tra xuất đi EU hoặc các thị trường Trung Đông như Jordan, UAE đang rơi vào tình cảnh "mắc kẹt" tại các cảng trung chuyển.
Áp lực chi phí còn đè nặng lên nhóm ngành hóa chất, phân bón và xăng dầu khi giá nguyên liệu đầu vào như hạt nhựa, dung môi, phụ gia tăng mạnh theo giá dầu thế giới. Các doanh nghiệp chế biến nông sản xuất khẩu sang Trung Đông và Bắc Phi thì đau đầu vì hệ thống thanh toán quốc tế qua các ngân hàng tại khu vực này liên tục bị gián đoạn.
Riêng với ngành chế biến gỗ và sản phẩm trang trí nội thất, HEPZA cho biết dù hiện tại ảnh hưởng chưa đáng kể, song dự báo sẽ chịu tác động mạnh trong trung và dài hạn. Hoa Kỳ hiện là thị trường xuất khẩu lớn nhất của TP.HCM (chiếm 23,42% với kim ngạch năm 2025 khoảng 21,7 tỷ USD) cũng được dự báo sẽ chịu tác động lan truyền từ việc gia tăng chi phí logistics này.
Khẩn trương gỡ khó, chuyển hướng thị trường
Trước bối cảnh bủa vây bởi khó khăn, các cơ quan ban ngành tại TP HCM đang khẩn trương triển khai nhiều giải pháp hỗ trợ nhằm bảo vệ biên lợi nhuận và sức cạnh tranh cho doanh nghiệp.
Ban Quản lý các khu chế xuất và công nghiệp cam kết tạo điều kiện thuận lợi và giải quyết nhanh nhất các thủ tục hành chính về xuất nhập khẩu, cấp phép lao động hay tham mưu cấp thẻ đi lại doanh nhân APEC.
Sở Công Thương thành phố cũng tăng cường hướng dẫn doanh nghiệp tận dụng tối đa các hiệp định thương mại tự do nhằm tối ưu hóa thuế quan để bù đắp một phần chi phí vận tải đang leo thang.
Cùng với đó, cơ quan quản lý phối hợp chặt chẽ với các hiệp hội logistics để tìm kiếm giải pháp tiết giảm chi phí lưu thông, đồng thời định hướng doanh nghiệp đẩy mạnh xúc tiến thương mại sang các khu vực ít chịu rủi ro địa chính trị hơn như ASEAN, Trung Quốc và Australia để đa dạng hóa thị trường và duy trì sự ổn định sản xuất.


