Thị trường nông nghiệp

Thị trường nông sản 7/10: Cà phê thế giới tăng mạnh, sầu riêng phân hóa theo chất lượng

HẢI ĐÔNG • 07/10/2026 08:45

Sáng 7/10, trái ngược với đà bứt phá mạnh mẽ của giá cà phê trên hai sàn kỳ hạn quốc tế nhờ sự phục hồi của đồng Real Brazil, cà phê tại Tây Nguyên tiếp tục đi ngang. Sầu riêng giữ vững vùng giá tốt, còn hồ tiêu, lúa gạo và cao su duy trì thế giằng co bình ổn.

Cà phê thế giới bứt phá phiên thứ ba liên tiếp

Thị trường nông sản sáng 7/10 ghi nhận trên sàn London, giá cà phê robusta kỳ hạn giao tháng 11/2026 tăng 62 USD/tấn, tương đương 1,76%, lên mức 3.590 USD/tấn. Kỳ hạn giao tháng 01/2026 tăng 76 USD/tấn, tương đương 2,16%, lên 3.588 USD/tấn.

thi-truong-nong-san-ngay-07102026-2-.jpg
Giá cà phê robusta trên sàn London sáng 7/10.

Cùng chiều, sàn New York ghi nhận giá cà phê arabica giao tháng 3/2026 tăng mạnh 11,55 US cent/pound, tương đương 4,06%, đạt 295,85 US cent/pound. Kỳ hạn tháng 5/2026 tăng 11,6 US cent/pound, tương đương 4,13%, lên 292,5 US cent/pound.

Đà tăng ba phiên liên tiếp đã đưa arabica lên đỉnh cao nhất trong 3,5 tuần và robusta chạm mức cao nhất trong 6 tuần.

Theo BarChart, động lực chính đến từ việc đồng Real Brazil tăng lên mức cao nhất trong 4,75 tháng so với USD, làm giảm áp lực bán hàng xuất khẩu từ các nhà sản xuất Brazil.

thi-truong-nong-san-ngay-07102026-1-.jpg
Giá cà phê arabica trên sàn New York sáng 7/10.

Thêm vào đó, việc các quỹ hàng hóa giữ vị thế bán khống kỷ lục trong 13 tháng với 3.959 hợp đồng bán khống ròng tính đến ngày 29/9 đã kích hoạt làn sóng mua bù thiếu để đóng vị thế.

Trái ngược với sắc xanh trên các sàn giao dịch quốc tế, tại thị trường nội địa, giá cà phê nhân xô tại Tây Nguyên tiếp tục đi ngang từ 93.400 đến 94.000 đồng/kg.

Cập nhật từ giacaphe.com cho thấy, mức thu mua cao nhất 94.000 đồng/kg được ghi nhận đồng loạt tại khu vực Đắk Nông (nay thuộc Lâm Đồng), Đắk Lắk và Gia Lai.

Riêng khu vực Lâm Đồng cũ có giá thu mua thấp nhất toàn vùng, duy trì ở mức 93.499 đồng/kg.

Hồ tiêu nội địa và quốc tế giữ thế trận bình ổn

Theo giatieu.com, sáng nay mặt bằng giá hồ tiêu tiếp tục duy trì ổn định trong khoảng 136.500 đến 140.500 đồng/kg.

Khu vực Lâm Đồng cũ tiếp tục dẫn đầu về giá thu mua với 140.500 đồng/kg. Đắk Lắk bám sát phía sau với 138.500 đồng/kg, khu vực Bà Rịa - Vũng Tàu (nay thuộc TP.HCM) đạt 137.000 đồng/kg. Các địa phương gồm Gia Lai và Đồng Nai cùng chia sẻ mức thu mua 136.500 đồng/kg.

Trên thị trường thế giới, giá hồ tiêu xuất khẩu tương đối bình ổn theo số liệu từ Hiệp hội Hồ tiêu Quốc tế.

Cụ thể, tiêu đen Brazil giữ ở mức 5.800 USD/tấn, tiêu đen Indonesia đạt 6.828 USD/tấn, tiêu đen Malaysia neo ở mốc cao nhất nhóm đạt 9.200 USD/tấn.

Đối với Việt Nam, tiêu đen loại 550 g/l chào bán ở mức 6.075 USD/tấn, còn tiêu đen loại 500 g/l đạt 5.970 USD/tấn, duy trì chênh lệch 105 USD/tấn giữa hai tiêu chuẩn.

Ở phân khúc tiêu trắng, Malaysia tiếp tục ghi nhận mức giá vượt trội 12.100 USD/tấn. Tiêu trắng Muntok của Indonesia với 9.348 USD/tấn và tiêu trắng Việt Nam đạt 8.450 USD/tấn.

Sáng 7/10/2026, thị trường nông sản chứng kiến đà bứt phá mạnh mẽ của giá cà phê trên hai sàn kỳ hạn quốc tế nhờ sự phục hồi của đồng Real Brazil.
Sáng 7/10/2026, thị trường nông sản chứng kiến đà bứt phá mạnh mẽ của giá cà phê trên hai sàn kỳ hạn quốc tế nhờ sự phục hồi của đồng Real Brazil.

Lúa tươi nhích nhẹ, giá gạo xuất khẩu ổn định

Khảo sát từ một số nguồn và luagaoviet.com sáng nay cho thấy, giá lúa tươi trên địa bàn ĐBSCL nhích tăng 100 đồng/kg ở hầu hết các giống.

Cụ thể, lúa OM 18 và Đài Thơm 8 cùng tăng lên mức 6.200 đến 6.300 đồng/kg. Giống OM 34 tăng lên 5.800 đến 5.900 đồng/kg, IR 50404 dao động từ 5.900 đến 6.000 đồng/kg, riêng giống OM 5451 giữ mức 6.000 đến 6.100 đồng/kg.

Tại các địa phương Cần Thơ, Đồng Tháp, Tây Ninh, Vĩnh Long, Cà Mau, giao dịch mới diễn ra khá chậm do nguồn lúa Hè Thu vãn đồng và lúa Thu Đông chưa thu hoạch rộ.

Ở mảng lúa gạo chế biến, giá gạo nguyên liệu xuất khẩu CL 555 và IR 504 cùng hạ nhiệt nhẹ 50 đồng/kg, lần lượt dao động ở mức 8.700 đến 8.800 đồng/kg và 8.700 đến 8.750 đồng/kg.

Các chủng loại khác đi ngang gồm OM 5451 ở mức 9.300 đến 9.400 đồng/kg, Đài Thơm 8 từ 9.200 đến 9.400 đồng/kg. OM 18 từ 8.700 đến 8.850 đồng/kg, cùng OM 380 và Sóc thơm ở mức 7.500 đến 7.600 đồng/kg.

Trên thị trường xuất khẩu, giá gạo Việt Nam giữ vững vị thế khi gạo thơm 100% tấm đạt 371 đến 375 USD/tấn. Gạo Jasmine ở mức 515 đến 519 USD/tấn và gạo thơm 5% tấm dao động 440 đến 445 USD/tấn.

Cùng lúc, gạo 5% tấm Thái Lan giảm 4 USD/tấn xuống 455 đến 459 USD/tấn, còn gạo 5% tấm Ấn Độ neo ở mức 382 đến 386 USD/tấn.

Thị trường nông sản ghi nhận giá sầu riêng vẫn phân hóa mạnh theo chất lượng

Thị trường sầu riêng sáng 7/10 duy trì mặt bằng giá tốt, đồng thời cho thấy sự chênh lệch sâu sắc giữa các vùng chuyên canh và các phân loại hàng hóa.

Khảo sát tại một số kho thu mua và giasaurieng.net cho thấy, tại Đắk Lắk, sầu riêng Thái loại A cơm chuẩn tiếp tục giữ mức đỉnh toàn quốc từ 92.000 đến 95.000 đồng/kg, loại B ở mức 70.000 đến 75.000 đồng/kg.

Giống Ri6 tại địa phương này neo ở mức khiêm tốn với loại A đạt 35.000 đồng/kg, loại B là 20.000 đồng/kg. Giống Musang King hàng dạt có giá 45.000 đồng/kg và loại B đạt 56.000 đồng/kg.

Tại Gia Lai, sầu Thái loại A cơm chuẩn cũng đạt từ 90.000 đến 95.000 đồng/kg, loại B ở mức 70.000 đồng/kg. Ri6 loại A và B lần lượt giữ mức 35.000 đồng/kg và 20.000 đồng/kg.

Tại Lâm Đồng, sầu Thái loại A đạt 87.000 đồng/kg, loại B ở mức 67.000 đồng/kg.

Riêng khu vực Đồng bằng sông Cửu Long, giá sầu Thái loại A đạt khoảng 79.000 đồng/kg, loại B từ 58.000 đến 59.000 đồng/kg.

Đối với Ri6, loại A đạt 64.000 đến 65.000 đồng/kg, loại B từ 49.000 đến 50.000 đồng/kg...

Cao su nội địa vẫn ổn định

Thị trường mủ cao su nguyên liệu trong nước sáng nay vẫn duy trì sự bình ổn tuyệt đối tại các đơn vị thu mua lớn.

Cụ thể, Công ty Cao su Mang Yang thu mua mủ nước loại 1 ở mức 463 đồng/TSC/kg, loại 2 là 458 đồng/TSC/kg. Mủ đông tạp loại 1 đạt 459 đồng/DRC và loại 2 là 404 đồng/DRC.

Tại Công ty Cao su Bà Rịa, mủ nước mức 1 có giá 452 đồng/độ TSC/kg, mức 2 là 447 đồng/độ TSC/kg và mức 3 là 442 đồng/độ TSC/kg.

Còn tại Công ty Cao su Phú Riềng, giá mủ nước đạt 420 đồng/TSC/kg và mủ tạp là 390 đồng/DRC/kg.

Trên thị trường quốc tế, giá cao su diễn biến trái chiều. Sàn TOCOM Nhật Bản ghi nhận hợp đồng RSS3 tháng 10/2026 giảm 0,64% về 438,20 JPY/kg. Kỳ hạn tháng 11/2026 đi ngang ở 443,80 JPY/kg, trong khi kỳ hạn tháng 12/2026 tăng 0,67% lên 446 JPY/kg.

Tại Thái Lan, giá chào xuất khẩu RSS3 tăng lên 95,91 Baht/kg.

Sàn SGX Singapore chứng kiến hợp đồng TSR20 tháng 11 và 12/2026 cùng tăng 1,01%, đạt lần lượt 260,40 cent/kg và 259,70 cent/kg.

Thị trường SHFE Thượng Hải tạm thời đóng cửa nghỉ lễ Quốc khánh đến ngày 8/10.

Ngoài ra, theo Cục Hải quan Việt Nam, 9 tháng đầu năm 2026, tổng khối lượng xuất khẩu cao su của Việt Nam đạt 1,09 triệu tấn, giảm 15,7% so với cùng kỳ năm trước, song nhờ giá bán duy trì ở mức cao nên kim ngạch mang về đạt tới 2,2 tỉ USD, chỉ sụt giảm nhẹ 3,6%.

Riêng trong tháng 9, dù khối lượng xuất bán giảm 17,7% so với cùng kỳ năm 2025 xuống còn 144 nghìn tấn, nhưng nguồn thu ngoại tệ lại đảo chiều tăng trưởng 5,9%, mang về 320 triệu USD cho toàn ngành.

    Nổi bật
        Mới nhất
        Thị trường nông sản 7/10: Cà phê thế giới tăng mạnh, sầu riêng phân hóa theo chất lượng
        • Mặc định

        POWERED BY ONECMS - A PRODUCT OF NEKO