Thị trường nông nghiệp

Thị trường nông sản 6/9: Cà phê bật tăng trở lại, cao su thế giới khởi sắc

HẢI ĐÔNG 06/09/2026 08:43

Thị trường nông sản sáng nay ghi nhận giá cà phê nội địa đảo chiều tăng 1.000 đồng/kg, cao su thế giới bứt phá trên diện rộng. Các mặt hàng hồ tiêu, lúa gạo duy trì xu hướng đi ngang chờ tín hiệu cầu mới.

Cà phê đảo chiều tăng giá

Thị trường nông sản sáng nay ghi nhận giá cà phê nội địa có tín hiệu khởi sắc khi giá thu mua tại các vùng trồng trọng điểm đồng loạt tăng 1.000 đồng/kg so với phiên giao dịch trước đó.

Hiện mặt bằng giá cà phê trong nước dao động trong khoảng 94.200 đến 95.000 đồng/kg, đưa mức giá trung bình phổ biến lên quanh ngưỡng 94.800 đồng/kg.

Theo giacaphe.com, khu vực Lâm Đồng cũ vẫn là nơi có mức giao dịch thấp nhất với 94.200 đồng/kg. Gia Lai và Đắk Lắk hiện giao dịch ở mức 94.700 đồng/kg.

Khu vực Đắk Nông (nay thuộc Lâm Đồng) tiếp tục là địa phương neo ở mức giá cao nhất với 95.000 đồng/kg sau khi cộng thêm 1.000 đồng/kg.

Trên thị trường quốc tế, diễn biến trái chiều bao phủ hai sàn giao dịch lớn.

Cụ thể, đối với sàn London, giá cà phê Robusta dao động từ 3.344 đến 3.400 USD/tấn.

Hợp đồng giao tháng 9/2026 đi ngang ở mức 3.344 USD/tấn, trong khi kỳ hạn tháng 11/2026 tăng 1,66%, lên mức 3.430 USD/tấn.

Tại sàn New York, giá Arabica giao tháng 9/2026 giảm nhẹ 0,03%, tương đương 0,1 US cent/lb, chốt tại 324,25 US cent/lb. Trái lại, hợp đồng kỳ hạn tháng 12/2026 nhích 0,08%, lên 295,6 US cent/lb.

Ngoài ra, dữ liệu thống kê cho thấy Việt Nam vẫn duy trì tốc độ xuất khẩu cà phê Robusta ở mức cao. Lũy kế 8 tháng năm 2026, lượng cà phê xuất khẩu của cả nước đạt 1,33 triệu tấn, tăng 13,7% so với cùng kỳ năm trước.

Thị trường nông sản sáng 6/9/2026 ghi nhận giá cà phê nội địa đảo chiều tăng 1.000 đồng/kg
Thị trường nông sản sáng 6/9/2026 ghi nhận giá cà phê nội địa đảo chiều tăng 1.000 đồng/kg

Thị trường nông sản cho thấy giá hồ tiêu nội địa vẫn đi ngang

Thị trường hồ tiêu trong nước sáng 6/9 tiếp tục duy trì trạng thái ổn định tại các vùng sản xuất trọng điểm. Mức giá thu mua phổ biến từ 135.000 đến 137.000 đồng/kg.

Theo cập nhật từ giatieu.com, khu vực Đắk Nông (nay thuộc Lâm Đồng) tiếp tục dẫn đầu mặt bằng giá với 137.000 đồng/kg. Kế đó là Đắk Lắk với 136.500 đồng/kg.

Tại các địa bàn Đồng Nai, Gia Lai và khu vực Bà Rịa - Vũng Tàu (nay thuộc TP.HCM), giá thu mua ổn định quanh mốc 135.000 đồng/kg.

Trái với sự lặng sóng của thị trường nội địa, giá tiêu thế giới bắt đầu có sự phân hóa đáng chú ý. Theo Hiệp hội Hồ tiêu Quốc tế, giá tiêu đen Indonesia được niêm yết ở mức 6.929 USD/tấn, tăng 0,52%, tương đương tăng 36 USD/tấn.

Cùng xu hướng, tiêu trắng Muntok của quốc gia này tăng 0,52%, thêm 49 USD/tấn, đạt 9.487 USD/tấn.

Ngược lại, giá tiêu đen ASTA 570 của Brazil giảm 0,86%, tương ứng mức giảm 50 USD/tấn, lùi về 5.750 USD/tấn.

Đối với Malaysia, giá tiêu đen Kuching giữ nguyên 9.300 USD/tấn và tiêu trắng neo tại 12.200 USD/tấn.

Về phía Việt Nam, giá tiêu xuất khẩu không có biến động, giữ nguyên mức 5.990 đến 6.050 USD/tấn đối với dòng tiêu đen loại 500 g/l và 550 g/l. Tiêu trắng xuất khẩu chào bán ở mức 8.400 USD/tấn.

Lúa tươi chững đà giảm, thị trường gạo xuất khẩu trầm lắng

Thị trường lúa gạo tại ĐBSCL sáng nay có xu hướng đi ngang sau nhịp điều chỉnh giảm trước đó.

Theo khảo sát tại một số nguồn và luagaoviet.com, lúa tươi đã tạm ngắt đà rơi sau khi đồng loạt giảm khoảng 100 đồng/kg ở phiên trước đó.

Hiện giống OM 18 và Đài Thơm 8 dao động quanh ngưỡng 6.500 đến 6.700 đồng/kg. Giống OM 5451 duy trì ở mức 6.400 đến 6.500 đồng/kg, IR 50404 giữ trong khoảng 6.200 đến 6.400 đồng/kg. OM 34 đạt 5.800 đến 5.900 đồng/kg.

Thị trường gạo nguyên liệu diễn biến ổn định hơn. Gạo nguyên liệu OM 5451 giữ mức 9.300 đến 9.400 đồng/kg. Đài Thơm 8 dao động từ 9.200 đến 9.400 đồng/kg. OM 18 giữ vùng 8.700 đến 8.850 đồng/kg.

Hai loại gạo IR 504 và CL 555 cùng neo ở mức 8.900 đến 8.950 đồng/kg. OM 380 và Sóc thơm duy trì khoảng 7.500 đến 7.600 đồng/kg.

Trên thị trường quốc tế, giá chào bán gạo xuất khẩu của Việt Nam tiếp tục đi ngang với gạo Jasmine ở mức 534 đến 538 USD/tấn. Gạo thơm 5% tấm quanh 470 đến 480 USD/tấn và gạo thơm 100% tấm đạt 373 đến 377 USD/tấn.

Giá sầu riêng Ri6 tăng nhẹ tại khu vực ĐBSCL

Thị trường sầu riêng sáng 6/9 ghi nhận diễn biến trái chiều khi giống Ri6 tại khu vực ĐBSCL có dấu hiệu phục hồi.

Cụ thể, theo khảo sát tại một số khu thu mua và giasaurieng.net, giá sầu riêng Ri6 tại đây bật tăng lên mức 40.000 đồng/kg đối với hàng loại A và đạt 25.000 đồng/kg đối với hàng loại B.

Sầu riêng Thái tại ĐBSCL, loại A dao động 73.000 đến 78.000 đồng/kg, loại B từ 53.000 đến 58.000 đồng/kg.

Tại Đắk Lắk, phân khúc sầu riêng Thái hàng đẹp và hàng VIP được nhiều thương lái thu mua trong khoảng 80.000 đến 85.000 đồng/kg đối với loại A, loại B ở mức 60.000 đến 65.000 đồng/kg.

Giống sầu riêng Ri6 tại đây hiện thu mua ở khoảng giá 35.000 đồng/kg cho loại A và 20.000 đồng/kg cho loại B. Dòng sầu riêng cao cấp Musang King loại A giao dịch ở 65.000 đồng/kg, loại B ghi nhận 56.000 đồng/kg.

Còn tại Gia Lai, mức giá thu mua sầu Thái loại A phổ biến từ 68.000 đến 78.000 đồng/kg, loại B đạt 48.000 đồng/kg. Giống sầu riêng Ri6 tại địa phương này duy trì mức 35.000 đồng/kg đối với loại A và 20.000 đồng/kg cho loại B.

Cao su trong nước bình ổn, các sàn châu Á đồng loạt bứt tốc

Thị trường cao su sáng 6/9 ghi nhận trạng thái trái ngược giữa cung cầu trong nước và biến động trên thị trường quốc tế.

Ở thị trường nội địa, các doanh nghiệp cao su lớn giữ biểu giá ổn định và chưa có sự điều chỉnh nào so với các phiên trước.

Cụ thể, Công ty Phú Riềng tiếp tục niêm yết giá thu mua mủ tạp ở mức 390 đồng/DRC và mủ nước là 420 đồng/TSC.

Công ty MangYang áp dụng mức giá thu mua mủ nước dao động từ 458 đến 463 đồng/TSC tùy loại mủ từ loại 2 đến loại 1.

Tại Công ty Bình Long, giá thu mua mủ nước tại nhà máy neo ở mức 540 đồng/độ TSC/kg và giá thu mua tại các đội sản xuất là 530 đồng/TSC/kg.

Công ty Cao su Bà Rịa duy trì giá mủ nước đạt 420 đồng/độ TSC/kg cho độ TSC từ 25 đến dưới 30.

Trên bình diện quốc tế, thị trường cao su khép lại phiên giao dịch trước đó với sắc xanh lan rộng.

Cụ thể, tại sàn Tokyo, hợp đồng cao su RSS3 giao tháng 9 tăng 1,13%, đạt 458,80 Yên/kg, dù hợp đồng kỳ hạn tháng 10 vẫn đi ngang ở mức 439 Yên/kg.

Tại sàn Thượng Hải, giá cao su tự nhiên đồng loạt tăng ở các kỳ hạn chính, trong đó kỳ hạn tháng 9 tăng 0,47% lên mức 18.000 Nhân dân tệ/tấn và kỳ hạn tháng 10 tăng 0,31%, cùng vươn lên mốc 18.000 Nhân dân tệ/tấn.

Đáng chú ý nhất là sàn SGX Singapore khi các hợp đồng TSR20 tăng trưởng vượt trội. Hợp đồng giao tháng 10 chốt tại 236,50 Cent/kg sau khi tăng 1,63%. Hợp đồng giao tháng 11 tăng 1,81%, vươn lên mốc 235,80 Cent/kg, củng cố đà hồi phục vững chắc cho ngành nguyên liệu này.

    Nổi bật
        Mới nhất
        Thị trường nông sản 6/9: Cà phê bật tăng trở lại, cao su thế giới khởi sắc
        • Mặc định

        POWERED BY ONECMS - A PRODUCT OF NEKO