Thị trường nông nghiệp

Thị trường nông sản 3/9: Giá cà phê lao dốc, hồ tiêu và lúa gạo duy trì thế bình ổn

HẢI ĐÔNG 03/09/2026 08:45

Áp lực nguồn cung đẩy giá cà phê trong nước và thế giới đồng loạt giảm sâu, trong khi hồ tiêu và lúa gạo đi ngang, sầu riêng phân hóa mạnh theo chất lượng, còn cao su chịu sức ép trên các sàn giao dịch quốc tế.

Cà phê quay đầu giảm mạnh theo đà thế giới

Thị trường nông sản sáng nay chứng kiến, giá cà phê sau chuỗi ngày neo ở vùng cao đã đồng loạt giảm 700 đồng/kg. Kéo mặt bằng thu mua lùi về dao động trong khoảng 94.300 đến 95.000 đồng/kg.

Cập nhật từ giacaphe.com cho thấy, tại khu vực Đắk Nông (nay thuộc Lâm Đồng) hiện thu mua ở mức 95.000 đồng/kg, tiếp tục giữ vị trí dẫn đầu về giá.

Tại Đắk Lắk và Gia Lai, giá giao dịch cùng hạ về mốc 94.800 đồng/kg. Khu vực Lâm Đồng cũ vẫn là địa phương ghi nhận mức giá thấp nhất khu vực khi lùi về 94.300 đồng/kg.

Đà đi xuống của thị trường nội địa chịu tác động trực tiếp từ làn sóng bán tháo trên các sàn giao dịch quốc tế, khi triển vọng nguồn cung tích cực từ Brazil tạo sức ép lớn.

Cụ thể, tại sàn New York, giá cà phê Arabica rơi xuống đáy 5 tuần dù lượng tồn kho được ICE chứng nhận vẫn neo ở mức thấp nhất 27 năm.

Hợp đồng giao tháng 9/2026 giảm mạnh 13,85 US cent/pound, tương đương 4,05%, chốt phiên tại 328,4 US cent/pound. Kỳ hạn tháng 12/2026 hạ 11,35 US cent/pound xuống 298,1 US cent/pound.

Trên sàn London, giá Robusta cũng chìm sâu trong sắc đỏ. Hợp đồng giao tháng 9/2026 giảm 55 USD, tương ứng 1,6%, xuống còn 3.376/tấn. Kỳ hạn giao tháng 11/2026 mất 55 /tấn xuống 3.406/tấn.

Thị trường nông sản sáng 3/9/2026 chứng kiến, giá cà phê trong nước và quốc tế chìm trong sắc đỏ.
Thị trường nông sản sáng 3/9/2026 chứng kiến, giá cà phê trong nước và quốc tế chìm trong sắc đỏ.

Hồ tiêu nội địa bình ổn, thị trường quốc tế biến động nhẹ

Trái ngược với sự rung lắc của cà phê, thị trường hồ tiêu trong nước sáng 3/9 tiếp tục chuỗi ngày đi ngang tại các vùng trọng điểm. Mặt bằng giá thu mua duy trì ổn định trong khoảng 135.000 đến 137.000 đồng/kg.

Theo giatieu.com, khu vực Đắk Nông (nay thuộc Lâm Đồng) tiếp tục dẫn đầu thị trường với mức giá 137.000 đồng/kg. Đắk Lắk ở ngưỡng 136.500 đồng/kg.

Gia Lai, Đồng Nai và khu vực Bà Rịa - Vũng Tàu (nay thuộc TP.HCM) hiện cùng giao dịch chung mốc 135.000 đồng/kg.

Trên thị trường quốc tế, diễn biến có sự phân hóa nhẹ khi Indonesia ghi nhận mức sụt giảm không đáng kể còn các quốc gia khác duy trì thế bình ổn.

CỤ thể, tiêu đen Lampung của Indonesia giảm 0,06% xuống 6.893/tấn, còn tiêu trắng Muntok giảm 0,05% về 9.438/tấn. Tiêu đen ASTA 570 của Brazil neo tại 5.800/tấn, tiêu đen Malaysia ASTA giữ vững 9.300/tấn.

Đối với phân khúc tiêu trắng, Việt Nam duy trì ổn định ở mức 8.400/tấn, còn Malaysia đạt 12.200/tấn.

Tại thị trường Ấn Độ, các mức giá niêm yết bằng rupee không biến động, với giá quy đổi tiêu Garbled cao nhất đạt 202.398 đồng/kg, tiêu Ungarbled đạt 196.729 đồng/kg.

Lúa gạo giao dịch trầm lắng, giá xuất khẩu vững vàng

Thị trường lúa gạo sáng 3/9 tại khu vực ĐBSCL không ghi nhận biến động mới, nhịp độ giao dịch tiếp tục diễn ra trầm lắng.

Khảo sát từ một số nguồn và luagaoviet.com cho thấy, giá thu mua lúa tươi OM 34 dao động trong khoảng 5.900 đến 6.000 đồng/kg.

Hai giống chất lượng cao là OM 18 và Đài Thơm 8 cùng nằm trong ngưỡng 6.600 đến 6.700 đồng/kg. Lúa tươi OM 5451 giữ mức 6.500 đến 6.600 đồng/kg, còn giống IR 50404 đạt từ 6.300 đến 6.400 đồng/kg.

Ở nhóm gạo nguyên liệu phục vụ chế biến xuất khẩu, giá thu mua giữ nhịp ổn định.

Gạo IR 504 và CL 555 cùng giao dịch trong khoảng 8.900 đến 8.950 đồng/kg. Gạo OM 5451 neo từ 9.300 đến 9.400 đồng/kg. Gạo Đài Thơm 8 dao động từ 9.200 đến 9.400 đồng/kg. OM 18 giữ mốc 8.700 đến 8.850 đồng/kg...

Trên thị trường xuất khẩu, theo Hiệp hội Lương thực Việt Nam, các đơn hàng xuất khẩu tiếp tục giữ nguyên mức chào bán.

Gạo thơm 5% tấm dao động từ 470 đến 480/tấn, gạo thơm 100% tấm đạt 373 đến 377/tấn, còn gạo Jasmine duy trì từ 534 đến 538/tấn.

Mặt bằng này tiếp tục tạo khoảng cách đáng kể so với các đối thủ trong khu vực, khi gạo 5% tấm của Thái Lan chào bán ở mức 453 đến 457/tấn và Ấn Độ neo ở vùng 364 đến 368/tấn.

Thị trường nông sản ghi nhận giá sầu riêng vẫn phân hóa sâu theo phẩm cấp

Theo khảo sát tại một số kho thu mua và giasaurieng.net, giá thu mua sầu riêng sáng 3/9 duy trì mức ổn định. Tuy nhiên biên độ chênh lệch giữa các nhóm phẩm cấp tiếp tục mở rộng.

Cụ thể, tại Đắk Lắk, sầu riêng Thái hàng đẹp loại A giữ mức cao từ 80.000 đến 85.000 đồng/kg, loại B ở mức 62.000 đồng/kg. Với giống Ri6, hàng loại A được thu mua ở mức 35.000 đồng/kg, loại B ở mức 20.000 đồng/kg. Giống Musang King loại A và loại B lần lượt đạt 65.000 đồng/kg và 56.000 đồng/kg.

Tại khu vực ĐBSCL, sầu Thái loại A có giá 73.000 đến 78.000 đồng/kg, loại B từ 53.000 đến 58.000 đồng/kg. Sầu Ri6 loại A dao động từ 25.000 đến 30.000 đồng/kg, loại B từ 20.000 đến 30.000 đồng/kg.

Tại Đồng Nai, sầu Thái loại A neo ở mức 72.000 đến 75.000 đồng/kg, loại B đạt 52.000 đồng/kg. Musang King loại A chạm mức 65.000 đến 70.000 đồng/kg...

Cao su chịu sức ép bán trên toàn sàn châu Á

Thị trường cao su sáng nay chứng kiến sắc đỏ bao phủ hầu hết sàn giao dịch lớn tại châu Á, trong khi giá thu mua mủ nội địa vẫn được các doanh nghiệp duy trì mức bình ổn.

Cụ thể, tại Nhật Bản, giá cao su RSS3 trên sàn TOCOM giao tháng 9/2026 giảm 1,08% xuống 455,80 JPY/kg, kỳ hạn tháng 12/2026 giảm 1,63% xuống 430,00 JPY/kg.

Tại Thượng Hải, sàn SHFE chứng kiến mức giảm trải đều từ các hợp đồng tháng 9/2026 đến tháng 3/2027 với biên độ từ 0,14% đến 0,38%. Trong đó, riêng hợp đồng tháng 9/2026 hiện chốt ở 17.765 CNY/tấn.

Còn trên sàn SGX Singapore, giá cao su TSR20 chịu áp lực nặng nhất khi nhiều kỳ hạn giảm hơn 1%. Hợp đồng tháng 10/2026 giảm 1,32% xuống 232,00 Cent/kg và tháng 11/2026 giảm 1,37% xuống 230,80 Cent/kg.

Ở thị trường trong nước, Công ty Cao su Bà Rịa giữ nguyên giá mủ nước mức 1 cho độ TSC từ 30 trở lên ở mức 452 đồng/độ TSC/kg.

Công ty Cao su Mang Yang thu mua mủ nước loại 1 ở mức 463 đồng/TSC/kg, loại 2 đạt 458 đồng/TSC/kg, mủ đông tạp loại 1 và 2 lần lượt đạt 459 đồng/kg và 404 đồng/kg.

Tại Công ty Cao su Phú Riềng, giá mủ nước đạt 420 đồng/TSC/kg, mủ tạp ở mức 390 đồng/DRC/kg.

Công ty Cao su Bình Long niêm yết giá mủ nước tại nhà máy 540 đồng/độ TSC/kg, tại đội sản xuất 530 đồng/độ TSC/kg.

    Nổi bật
        Mới nhất
        Thị trường nông sản 3/9: Giá cà phê lao dốc, hồ tiêu và lúa gạo duy trì thế bình ổn
        • Mặc định

        POWERED BY ONECMS - A PRODUCT OF NEKO