Giá cả

Thị trường nông sản 27/8: Cà phê hạ nhiệt, hồ tiêu khởi sắc nhẹ

HẢI ĐÔNG 27/08/2026 08:49

Thị trường nông sản sáng 27/8 chứng kiến giá cà phê và lúa gạo đồng loạt chịu áp lực điều chỉnh giảm. Hồ tiêu và sầu riêng ghi nhận những tín hiệu khởi sắc cục bộ, còn giá heo hơi và cao su trong nước tiếp tục xu hướng đi ngang.

Cà phê nội địa đồng loạt giảm giá theo đà lao dốc của sàn quốc tế

Thị trường nông sản sáng nay cho thấy, giá cà phê trong nước ghi nhận mức giảm 500 đồng/kg tại hầu hết các vùng trồng trọng điểm. Mặt bằng giá thu mua hiện dao động trong khoảng từ 96.500 đến 97.200 đồng /kg.

Cụ thể, theo giacaphe.com, tại khu vực Đắk Nông (nay thuộc Lâm Đồng), hiện có mức giá cao nhất là 97.200 đồng/kg. Đắk Lắk và Gia Lai cùng ghi nhận mức giá 97.000 đồng/kg sau khi giảm 500 đồng/kg so với phiên liền trước.

Khu vực Lâm Đồng cũ tiếp tục là nơi có mức giá thấp nhất khu vực, hiện giao dịch quanh mốc 96.500 đồng/kg.

Sắc đỏ từ thị trường nội địa phản ánh rõ nét diễn biến suy yếu trên hai sàn giao dịch kỳ hạn thế giới.

Tại sàn London, giá cà phê robusta hợp đồng giao tháng 9/2026 giảm 1,78%, tương đương mức giảm 65 USD /tấn, xuống còn 3.588 USD /tấn. Hợp đồng kỳ hạn giao tháng 11/2026 giảm 77 USD /tấn, tương ứng giảm 2,09%, chốt ở mức 3.614 USD /tấn.

Cùng xu hướng, sàn New York ghi nhận giá arabica hợp đồng giao tháng 9/2026 giảm 3,72%, tương đương 13,8 US cent/pound, xuống 357,6 US cent/pound. Kỳ hạn tháng 12/2026 cũng mất 3,98%, lùi về mốc 322,5 US cent/pound.

Thị trường nông sản sáng 27/8 ghi nhận giá cà phê nội địa giảm 500 đồng/kg.
Thị trường nông sản sáng 27/8 ghi nhận giá cà phê nội địa giảm 500 đồng/kg tại hầu hết các vùng trồng trọng điểm.

Thị trường nông sản ghi nhận hồ tiêu nội địa tăng cục bộ

Thị trường hồ tiêu nội địa sáng nay đón nhận tín hiệu khởi sắc cục bộ ở một số vùng trồng sau chuỗi ngày đi ngang. Hiện mặt bằng hồ tiêu dao động trong khoảng 136.000 đến 138.500 đồng/kg.

Cập nhật từ giatieu.com cho thấy, giá thu mua tại Gia Lai và khu vực Bà Rịa - Vũng Tàu (nay thuộc TP.HCM) cùng nhích thêm 500 đồng/kg, lên mức 136.500 đồng/kg.

Các vùng nguyên liệu còn lại giữ giá ổn định, trong đó Đồng Nai hiện thu mua ở mức 136.000 đồng/kg, Đắk Lắk giữ mức 138.000 đồng/kg. Khu vực Đắk Nông (nay thuộc Lâm Đồng) tiếp tục dẫn đầu thị trường với 138.500 đồng/kg.

Trên thị trường xuất khẩu, theo Hiệp hội Hồ tiêu Quốc tế cho thấy thị trường xuất khẩu thế giới chưa có nhiều biến động.

Cụ thể, tiêu đen Indonesia đang được niêm yết ở mức 6.873 USD/tấn. Tiêu đen ASTA 570 của Brazil đạt 5.900 USD/tấn và Malaysia giữ mốc 9.300 USD/tấn.

Giá tiêu đen xuất khẩu của Việt Nam duy trì vững ở mức 5.990 đến 6.050 USD/tấn đối với các loại 500 g/l và 550 g/l.

Ở nhóm tiêu trắng, giá tiêu Muntok Indonesia chào bán ở mức 9.410 USD/tấn. Tiêu trắng của Việt Nam và Malaysia lần lượt neo ở mức 8.400 USD/tấn và 12.200 USD/tấn.

Tại Ấn Độ, giá niêm yết quy đổi loại tiêu Garbled đạt 202.634 đồng/kg, Ungarbled đạt 196.958 đồng/kg và Gram/lít ở mức 194.120 đồng/kg.

Lúa gạo miền Tây vẫn giao dịch trầm lắng

Thị trường lúa gạo tại ĐBSCL tiếp tục duy trì trạng thái ảm đạm do sức mua từ các thương lái và doanh nghiệp có dấu hiệu chậm lại.

Theo khảo sát từ một số nguồn và luagaoviet.com cho thấy, ở phân khúc lúa tươi, giống OM 5451 giảm khoảng 100 đồng/kg, xuống còn 6.500 đến 6.600 đồng/kg.

Lúa OM 34 cũng ghi nhận mức giảm tương tự, lùi về 6.000 đến 6.100 đồng/kg. Tương tự, giống lúa thơm OM 18 hạ nhiệt về khoảng 6.800 đến 7.000 đồng/kg...

Áp lực điều chỉnh cũng lan sang nhóm gạo nguyên liệu khi cả IR 504 và CL 555 cùng giảm 50 đồng/kg, rơi về mốc 9.450 đến 9.500 đồng/kg.

Các chủng loại gạo khác duy trì mức giá cũ, gồm OM 5451 dao động 9.300 đến 9.400 đồng/kg, Đài Thơm 8 khoảng 9.200 đến 9.400 đồng/kg và OM 18 đạt 8.700 đến 8.850 đồng/kg.

Trên thị trường quốc tế, giá gạo xuất khẩu Việt Nam đi ngang với gạo thơm 5% tấm đạt 500 đến 505 USD/tấn. Gạo thơm 100% tấm ở mức 370 đến 374 USD/tấn. Gạo Jasmine duy trì 538 đến 542 USD/tấn.

Sầu riêng tiếp tục phân hóa giữa chủng loại, chất lượng

Khảo sát tại một số kho thu mua và giasaurieng.net cho thấy, thị trường sầu riêng sáng nay ghi nhận, tại Gia Lai khi sầu Thái loại A bật tăng từ 8.000 đến 12.000 đồng/kg. Hiện giao dịch ở mức 80.000 đồng/kg. Loại B tại đây dao động 52.000 đến 60.000 đồng/kg.

Trái lại, giống Ri6 tại khu vực này vẫn neo ở mức thấp với loại A đạt 35.000 đồng/kg và loại B đạt 22.000 đồng/kg.

Tại khu vực Đắk Lắk, giá sầu Thái hàng đẹp loại A đạt 83.000 đồng/kg, loại B ở mức 63.000 đồng/kg. Dòng cao cấp Musang King tại Đắk Lắk đạt 76.000 đồng/kg đối với loại A và 56.000 đồng/kg đối với loại B. Ri6 loại A và B chỉ đứng ở mức 35.000 đồng/kg và 20.000 đồng/kg.

Tại Đồng Nai, sầu Thái loại A ghi nhận 70.000 đồng/kg, loại B đạt 45.000 đồng/kg. Giống Musang King loại A và B đạt 65.000 đến 70.000 đồng/kg và 40.000 đến 55.000 đồng/kg. Ri6 loại A và B tại đây hiện giao dịch ở mức 37.000 đến 40.000 đồng/kg và 25.000 đồng/kg.

Còn tại khu vực ĐBSCL, sầu Thái loại A và loại B dao động lần lượt từ 73.000 đến 80.000 đồng/kg và 53.000 đến 65.000 đồng/kg. Ri6 loại A từ 35.000 đến 40.000 đồng/kg và loại B từ 20.000 đến 30.000 đồng/kg.

Heo hơi cả ba miền chững lại sau chuỗi tăng giá

Sau nhịp phục hồi, giá heo hơi trên toàn quốc sáng nay tạm thời đi ngang và neo giữ mặt bằng giá từ 57.000 đến 60.000 đồng/kg trên cả 34 tỉnh thành.

Miền Bắc tiếp tục là khu vực có mức giá thu mua cao nhất cả nước, duy trì trong khoảng 59.000 đến 60.000 đồng/kg. Có tới 11 địa phương phía cùng giữ đỉnh 60.000 đồng/kg. Nhóm địa phương còn lại gồm Lào Cai, Lai Châu, Điện Biên và Sơn La ổn định ở mức 59.000 đồng/kg.

Tại miền Trung và Tây Nguyên, giá thu mua giữ nguyên trong biên độ 57.000 đến 58.000 đồng/kg. Mức giá trần 58.000 đồng/kg xuất hiện tại Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Trị, TP. Huế và Lâm Đồng. Các tỉnh Đà Nẵng, Quảng Ngãi, Gia Lai, Đắk Lắk và Khánh Hòa duy trì ở mức 57.000 đồng/kg.

Khu vực miền Nam ghi nhận sự ổn định tương tự, với mức giá 58.000 đồng/kg tại TP.HCM, Đồng Nai, Tây Ninh và Vĩnh Long. Các địa phương vùng Tây Nam Bộ tiếp tục giao dịch quanh mức sàn 57.000 đồng/kg.

Thị trường cao su châu Á biến động trái chiều

Thị trường cao su tự nhiên trong nước tiếp tục duy trì chính sách giá ổn định tại các doanh nghiệp lớn.

Cụ thể, tại Công ty Cao su Bà Rịa, giá thu mua mủ nước loại một áp dụng cho độ TSC từ 30 trở lên đạt 452 đồng/độ TSC/kg. Loại hai đạt 447 đồng/độ TSC/kg và loại ba đạt 442 đồng/độ TSC/kg.

Công ty Cao su Mang Yang thu mua mủ nước loại một ở mức 463 đồng/TSC/kg, mủ nước loại hai 458 đồng/TSC/kg. Mủ đông tạp loại một và loại hai lần lượt đạt 459 đồng /kg và 404 đồng/kg.

Tại Công ty Cao su Bình Long, mủ nước thu mua tại nhà máy đạt 540 đồng/độ TSC/kg, tại đội sản xuất đạt 530 đồng/độ TSC/kg.

Còn tại Công ty Cao su Phú Riềng niêm yết mủ nước ở mức 420 đồng/TSC/kg và mủ tạp là 390 đồng/DRC/kg.

Trên thị trường quốc tế, giá cao su diễn biến phân hóa giữa các sàn lớn.

Tại Nhật Bản, sàn TOCOM chứng kiến giá RSS3 đồng loạt giảm ở các kỳ hạn, với hợp đồng tháng 8/2026 giảm 1,94% về 453,70 JPY/kg. Kỳ hạn tháng 9/2026 giảm 2,00% còn 440,00 JPY/kg.

Sàn SHFE Thượng Hải cũng nhuộm sắc đỏ khi hợp đồng tự nhiên tháng 9/2026 giảm 0,85% xuống 17.555 CNY/tấn và hợp đồng tháng 10/2026 giảm 0,65% còn 17.600 CNY/tấn.

Ngược lại, sàn SGX Singapore ghi nhận sắc xanh chiếm ưu thế khi hợp đồng TSR20 kỳ hạn tháng 9/2026 tăng 0,47% lên mức 236,40 Cent/kg. Kỳ hạn tháng 11/2026 tăng 0,04% lên 230,50 Cent/kg và kỳ hạn tháng 12/2026 tăng 0,17% đạt 229,50 Cent/kg.

    Nổi bật
        Mới nhất
        Thị trường nông sản 27/8: Cà phê hạ nhiệt, hồ tiêu khởi sắc nhẹ
        • Mặc định

        POWERED BY ONECMS - A PRODUCT OF NEKO