Thị trường nông sản 25/8: Cà phê, heo hơi bật tăng, hồ tiêu đi ngang
Thị trường nông sản sáng 25/8/2026 chứng kiến những gam màu tích cực. Nổi bật nhất là đà tăng của cà phê, heo hơi. Các mặt hàng lúa gạo, hồ tiêu, cao su duy trì trạng thái bình ổn.
Cà phê nội địa tăng nhẹ, thế giới phủ sắc xanh
Thị trường nông sản sáng nay ghi nhận tín hiệu khởi sắc khi toàn bộ các vùng sản xuất cà phê trọng điểm đồng loạt điều chỉnh tăng 300 đồng/kg, đưa mức giá bình quân toàn thị trường lên ngưỡng 96.600 đồng/kg
Theo giacaphe.com, tại Đắk Lắk và Gia Lai, giá cà phê cùng tăng lên mốc 96.500 đồng/kg
Khu vực Đắk Nông (nay thuộc Lâm Đồng) tiếp tục giữ vị trí dẫn đầu cả nước khi đạt 96.800 đồng/kg sau khi cộng thêm 300 đồng/kg
Trên bình diện quốc tế, hai dòng cà phê chủ chốt đều phủ sắc xanh ở toàn bộ kỳ hạn
Trên sàn London, hợp đồng Robusta giao tháng 9/2026 vọt tăng 5,34%, tương đương tăng 192 USD/tấn, lên mức 3.790 USD/tấn
Cùng xu hướng đó, sàn New York ghi nhận phiên giao dịch sôi động của Arabica khi hợp đồng giao tháng 9/2026 tăng 5,30%, tương ứng 19 US cent/pound, chạm mốc 377,75 US cent/pound

Hồ tiêu giữ thế đi ngang, xuất khẩu giữ giá ổn định
Trái ngược với đà tăng của cà phê, thị trường hồ tiêu trong nước tiếp tục xu hướng đi ngang tại phần lớn vùng trồng trọng điểm.
Ngoại trừ khu vực Đắk Nông (nay thuộc Lâm Đồng) ghi nhận giảm nhẹ 500 đồng/kg so với hôm qua
Theo giatieu.com, Đắk Lắk hiện duy trì mức 138.000 đồng/kg
Mặt bằng giá tiêu xô nội địa hiện dao động trong khoảng từ 136.000 đến 138.500 đồng/kg
Trên thị trường xuất khẩu, theo dữ liệu từ Hiệp hội Hồ tiêu Quốc tế, giá hồ tiêu thế giới tại các nguồn cung chủ lực nhìn chung ổn định
Tiêu đen Indonesia được niêm yết ở mức 6.851 USD/tấn, tiêu đen ASTA 570 của Brazil đạt 5.900 USD/tấn và tiêu đen Malaysia duy trì ở mốc 9.300 USD/tấn
Đối với phân khúc tiêu đen xuất khẩu của Việt Nam, giá giữ trong khoảng 5.990 đến 6.050 USD/tấn cho các chủng loại 500 g/l và 550 g/l
Ở mảng tiêu trắng, Indonesia giữ mức 9.380 USD/tấn, Việt Nam đạt 8.400 USD/tấn, trong khi Malaysia tiếp tục neo ở mức cao 12.200 USD/tấn
Tại thị trường Ấn Độ, các mức giá niêm yết bằng rupee không biến động, với loại Garbled đạt mức quy đổi cao nhất là 202.120 đồng/kg. Loại Ungarbled ở mức 196.458 đồng/kg và loại Gram/lít đạt 193.627 đồng/kg
Lúa gạo duy trì mặt bằng giá, xuất khẩu ổn định
Khảo sát từ một số nguồn và luagaoviet.com cho thấy, sáng thị trường lúa gạo tại ĐBSCL không ghi nhận nhiều biến động mới
Cụ thể, giá lúa tươi IR 50404 thu mua tại ruộng dao động từ 6.300 đến 6.400 đồng/kg. Lúa OM 34 từ 6.000 đến 6.200 đồng/kg. Lúa Đài Thơm 8 đạt 6.800 đến 7.000 đồng/kg. Lúa OM 18 giữ mức 6.900 đến 7.100 đồng/kg và lúa OM 5451 ở mức 6.600 đến 6.700 đồng/kg
Ở phân khúc gạo nguyên liệu xuất khẩu, chủng loại IR 504 dao động ở mức 9.450 đến 9.550 đồng/kg. CL 555 từ 9.500 đến 9.550 đồng/kg. OM 5451 từ 9.300 đến 9.400 đồng/kg. Đài Thơm 8 giữ khoảng 9.200 đến 9.400 đồng/kg, trong khi OM 18 đạt 8.700 đến 8.850 đồng/kg
Ở mảng xuấ khẩu, theo Hiệp hội Lương thực Việt Nam, giá gạo xuất khẩu của nước ta giữ nguyên quanh ngưỡng 370 đến 542 USD/tấn
Gạo thơm 5% tấm chào bán ở mức 500 đến 505 USD/tấn, gạo thơm 100% tấm dao động từ 370 đến 374 USD/tấn và gạo Jasmine đạt 538 đến 542 USD/tấn
So với thị trường khu vực, giá gạo 5% tấm của Thái Lan hiện dao động 450 đến 454 USD/tấn và gạo 100% tấm đạt 374 đến 378 USD/tấn
Tại Ấn Độ, gạo 5% tấm dao động ở mức 360 đến 364 USD/tấn và gạo 100% tấm giữ mức 292 đến 296 USD/tấn
Thị trường nông sản sáng nay ghi nhận giá sầu riêng vẫn phân hóa theo chất lượng
Thị trường sầu riêng sáng nay ghi nhận đà phục hồi mạnh mẽ ở nhóm hàng đạt chuẩn, đặc biệt tại khu vực ĐSBCL.
Cụ thể, theo khảo sát từ một số kho thu mua và giasaurieng.net, giá sầu Thái loại A tăng thêm 5.000 đến 7.000 đồng/kg so với hôm trước, vươn lên khoảng 73.000 đến 80.000 đồng/kg
Phân khúc sầu Ri6 tại miền Tây duy trì ở mức 35.000 đến 40.000 đồn/kg đối với loại A và 20.000 đến 30.000 đồng/kg đối với loại B
Tại Đồng Nai, sầu Thái loại A neo ở mức 70.000 đồng/kg, loại B ở mức 45.000 đồng/kg. Sầu Ri6 loại A đạt 37.000 đến 40.000 đồng/kg. Musang King loại A tại đây hiện chạm ngưỡng 65.000 đến 70.000 đồng/kg.
Tại Đắk Lắk, sầu Thái hàng đẹp loại A dẫn đầu với 80.000 đến 83.000 đồng/kg, loại B là 60.000 đồng/kg. Ri6 loại A tại Đắk Lắk đạt 35.000 đồng/kg. Musang King loại A tại địa phương này đạt 65.000 đến 70.000 đồng/kg
Heo hơi miền Bắc đồng loạt tăng
Sáng nay ngành chăn nuôi mang đến bức tranh đầy lạc quan khi nhiều địa phương ghi nhận mức tăng 1.000 đồng/kg.
Miền Bắc là tâm điểm của thị trường khi toàn bộ 15 tỉnh thành đồng loạt đi lên. Cụ thể, các địa phương như Hà Nội, Hưng Yên, Bắc Ninh, Thái Nguyên nhanh chóng thiết lập mặt bằng 59.000 đồng/kg, cao nhất cả nước. Các tỉnh miền núi như Lào Cai, Lai Châu, Điện Biên và Sơn La cũng tăng lên 58.000 đồng/kg.
Thị trường miền Trung nhìn chung ổn định, riêng Lâm Đồng điều chỉnh tăng lên 58.000 đồng/kg, trong khi Khánh Hòa vẫn neo ở mức thấp nhất nước là 56.000 đồng/kg.
Còn tại miền Nam,các thủ phủ chăn nuôi như Đồng Nai, TP.HCM và Vĩnh Long tiếp tục giữ đỉnh khu vực với 58.000 đồng/kg. Đồng Tháp và Cà Mau cùng nhích tăng, hiện giá thu mua đạt 57.000 đồng/kg.
Cao su thế giới tăng nhiệt, thị trường nội địa tiếp tục ổn định
Thị trường cao su sáng nay cho thấy, giá cao su tự nhiên trên các sàn quốc tế nghiêng hẳn về xu hướng đi lên nhờ lực mua tích cực từ Trung Quốc và Singapore
Cụ thể, tại sàn Thượng Hải ghi nhận toàn bộ hợp đồng tăng từ 1,48% đến 1,68%, đưa kỳ hạn tháng 9/2026 lên 17.855 CNY/tấn. Kỳ hạn tháng 3/2027 lên 18.870 CNY/tấn
Sàn Singapore tăng mạnh tới 2,02% với hợp đồng TSR20 giao tháng 9/2026 đạt 237,40 Cent/kg
Trong khi đó, sàn Tokyo của Nhật Bản gần như đi ngang thận trọng, với hợp đồng tháng 8/2026 giữ 478,90 JPY/kg và hợp đồng tháng 12/2026 tăng nhẹ 0,32% lên 438,60 JPY/kg
Ở thị trường trong nước, các công ty sản xuất giữ giá thu mua đi ngang
Công ty Cao su Mang Yang thu mua mủ nước loại 1 ở mức 463 đồng/TSC/kg, mủ nước loại 2 ở mức 458 đồng/TSC/kg.
Công ty Cao su Bà Rịa niêm yết mủ nước mức 1 ở giá 452 đồng/độ TSC/kg, mức 2 là 447 đồng/độ TSC/kg.
Tại Công ty Cao su Phú Riềng, mủ nước đạt 420 đồng/TSC/kg và mủ tạp ở mức 390 đồng/DRC/kg


