Thị trường nông nghiệp

Thị trường nông sản 22/10: Cà phê và lúa gạo biến động, sầu riêng phân hóa

HẢI ĐÔNG • 22/10/2026 09:24

Thị trường cà phê sáng nay chứng kiến sự trái chiều giữa hai sàn quốc tế và đà giảm mạnh trong nước, ngành hồ tiêu và cao su lại ghi nhận sự bình ổn.

Cà phê chịu áp lực lớn

Thị trường nông sản sáng 22/10 ghi nhận diễn biến trái chiều của cà phê trên hai sàn quốc tế và đà giảm mạnh trong nước.

Cụ thể, cập nhật từ giacaphe.com cho thấy, giá cà phê trực tuyến robusta hợp đồng giao kỳ hạn tháng 11/2026 trên sàn London giảm 1,7% tương đương 58 USD/tấn so với phiên trước, lùi xuống còn 3.352 USD/tấn.

Hợp đồng giao tháng 1/2027 cũng giảm 1,75% tương đương 60 USD/tấn, đạt 3.364 USD/tấn.

Khác với diễn biến của robusta, trên sàn giao dịch New York, giá cà phê arabica giao kỳ hạn tháng 12/2026 tăng 1,56% vươn lên mức 316,15 US cent/pound.

Hợp đồng giao tháng 3/2027 cũng tăng 0,75% đạt 301,25 US cent/pound.

Theo BarChart, sự phục hồi của arabica được thúc đẩy bởi tồn kho có xu hướng thắt chặt.

Mặc dù lượng tồn kho arabica trên sàn ICE nhích nhẹ lên 239.748 bao nhưng nhìn chung vẫn đang trong chu kỳ giảm và chỉ nhỉnh hơn một chút so với mức đáy 27 năm.

Ngược lại, giá robusta chịu sức ép lớn khi tồn kho trên sàn ICE tăng vọt lên mức đỉnh một năm đạt 6.380 lô, kết hợp cùng áp lực nguồn cung từ vụ thu hoạch đang diễn ra tại Việt Nam.

Đồng pha với thị trường quốc tế, tại thị trường trong nước, kết thúc phiên giao dịch hôm qua, giá cà phê khu vực Tây Nguyên đồng loạt giảm mạnh 2.000 đồng/kg.

Hiện giá cà phê giao dịch dao động trong khoảng 91.200 đến 92.000 đồng/kg.

Cụ thể, tại khu vực Đắk Nông (nay thuộc Lâm Đồng) giảm xuống còn 92.000 đồng/kg nhưng vẫn giữ mức thu mua cao nhất khu vực.

Đắk Lắk và Gia Lai hiện cùng giao dịch ở mức 91.800 đồng/kg. Khu vực Lâm Đồng cũ ghi nhận mức thấp nhất thị trường là 91.200 đồng/kg.

Thị trường nông sản sáng 22/10/2026 ghi nhận diễn biến trái chiều của cà phê trên hai sàn quốc tế.
Thị trường nông sản sáng 22/10/2026 ghi nhận diễn biến trái chiều của cà phê trên hai sàn quốc tế.

Hồ tiêu vẫn duy trì sự ổn định

Khác với biến động của cà phê, thị trường hồ tiêu trong nước tiếp tục duy trì sự ổn định vững chắc ở mức 137.000 đến 139.500 đồng/kg.

Cập nhật từ giatieu.com cho thấy, khu vực Đắk Nông (nay thuộc Lâm Đồng) vẫn dẫn đầu về giá thu mua với 139.500 đồng/kg. Kế tiếp đó là Đắk Lắk với 138.500 đồng/kg.

Khu vực Bà Rịa - Vũng Tàu (nay thuộc TP.HCM) hiện giao dịch quanh mốc 137.500 đồng/kg. Gia Lai và Đồng Nai hiện ghi nhận mức giá thấp nhất với 137.000 đồng/kg.

Trên thị trường thế giới, theo Cộng đồng Hồ tiêu Quốc tế (IPC), giá tiêu đen Indonesia tăng 1,2% tương ứng 81 USD/tấn lên mức 6.850 USD/tấn.

Giá tiêu tại các quốc gia sản xuất khác duy trì ổn định như tiêu đen Malaysia đạt 9.100 USD/tấn và tiêu đen ASTA 570 của Brazil giao dịch quanh 5.800 USD/tấn.

Giá tiêu đen xuất khẩu của Việt Nam loại 500 g/l đi ngang ở mức 5.950 USD/tấn, còn loại 550 g/l đạt 5.995 USD/tấn.

Ngoài ra, theo Cục Hải Quan Việt Nam, 9 tháng năm 2026, xuất khẩu hồ tiêu của Việt Nam đạt hơn 216 nghìn tấn, mang về 1,41 tỉ USD.

Đồng thời, Mỹ tiếp tục là thị trường xuất khẩu hồ tiêu lớn nhất của Việt Nam, chiếm hơn 24% tổng lượng xuất khẩu, tiếp tục khẳng định vai trò là động lực tăng trưởng quan trọng.

Lúa gạo chịu sức ép cạnh tranh

Khảo sát từ một số nguồn và luagaoviet.com cho thấy, sáng nay tại khu vực ĐBSCL, giá gạo nguyên liệu ghi nhận xu hướng tăng nhẹ.

Cụ thể, giá gạo nguyên liệu IR 504 tăng 50 đồng/kg lên mức 8.900 đến 9.000 đồng/kg. Gạo nguyên liệu CL 555 tăng 100 đồng/kg dao động từ 8.900 đến 9.000 đồng/kg.

Giá lúa hôm nay bình ổn với lúa tươi Đài Thơm 8 ở mức 6.400 đến 6.500 đồng/kg. Lúa tươi IR 50404 từ 5.900 đến 6.000 đồng/kg...

Trên thị trường xuất khẩu, giá gạo thơm 5% tấm của Việt Nam hiện ở mức 470 đến 475 USD/tấn. Gạo trắng 5% tấm ổn định ở mức 423 đến 427 USD/tấn.

Tại Thái Lan, gạo trắng 5% tấm tăng 2 USD/tấn lên mức 478 USD/tấn.

Ngoài ra, theo thống kê của Cục Hải quan Việt Nam, xuất khẩu gạo Việt Nam trong 9 tháng năm 2026 đạt hơn 6,3 triệu tấn, thu về hơn 3 tỷ USD, giảm nhẹ so với cùng kỳ năm trước.

Thị trường nông sản ghi nhận giá sầu riêng tiếp tục phân hóa mạnh theo chất lượng

Khảo sát tại một số kho thu mua và giasaurieng.net cho thấy, sáng nay, giá sầu riêng tiếp tục ghi nhận sự phân hóa mạnh giữa các giống và chất lượng hàng tại các vùng trồng trọng điểm.

Cụ thể, ở khu vực ĐBSCL, sầu riêng Thái loại A dao động từ 86.000 đến 90.000 đồng/kg. Sầu riêng Ri6 loại A đạt 80.000 đến 82.000 đồng/kg.

Tại Đắk Lắk, sầu riêng Thái loại A được thu mua từ 83.000 đến 95.000 đồng/kg.

Khu vực Gia Lai ghi nhận sầu riêng Thái loại A ở mức 88.000 đồng/kg.

Tại Lâm Đồng, sầu riêng Thái loại A dao động từ 78.000 đến 80.000 đồng/kg.

Đáng chú ý, các giống cao cấp như Musang King loại A duy trì mức giá rất cao từ 149.000 đến 150.000 đồng/kg. Còn sầu riêng Black Thorn loại A dẫn đầu thị trường với mức giá kỷ lục 155.000 đồng/kg.

Giá cao su thế giới biến động trái chiều

Thị trường cao su trong nước sáng nay tiếp tục ghi nhận sự ổn định về giá thu mua tại các doanh nghiệp.

Cụ thể, Công ty Cao su MangYang thu mua mủ nước từ 458 đến 463 đồng/TSC. Công ty Phú Riềng duy trì giá mủ tạp ở mức 390 đồng/DRC.

Công ty Cao su Bình Long giữ giá thu mua tại nhà máy ở mức 540 đồng/TSC. Còn tại Công ty Cao su Bà Rịa, giá mủ nước ở mức 420 đồng/độ TSC/kg...

Ngoài ra, theo số liệu thống kê của Cục Hải quan Việt Nam, lũy kế 9 tháng đầu năm 2026, xuất khẩu cao su đạt 1,08 triệu tấn, trị giá 2,19 tir USD, giảm 15,8% về lượng và giảm 3,7% về trị giá so với cùng kỳ năm 2025.

Tuy nhiên, cũng theo Cục Hải quan Việt Nam, 9 tháng đầu năm 2026, giá bình quân xuất khẩu cao su đạt 2.022 USD/tấn, tăng 14,4% so với cùng kỳ năm 2025. Điều này cho thấy mặt bằng giá xuất khẩu cao su tiếp tục được cải thiện so với cùng kỳ năm trước.

Trên thị trường thế giới, kết thúc phiên giao dịch, giá cao su RSS3 trên sàn TOCOM Nhật Bản đồng loạt đi xuống, với hợp đồng tháng 11 giảm hơn 1% đạt 448 yên/kg.

Tại Thái Lan, giá chào xuất khẩu cao su RSS3 tăng nhẹ 0,05% lên 96,44 baht/kg.

Trên Sàn Giao dịch Kỳ hạn Thượng Hải, áp lực giảm thể hiện rõ khi hợp đồng cao su tự nhiên giao tháng 11 giảm 1,23% xuống 18.925 nhân dân tệ/tấn.

Diễn biến này cho thấy áp lực bán vẫn hiện hữu, làm dấy lên lo ngại về khả năng duy trì đà phục hồi của giá cao su trong ngắn hạn.

    Nổi bật
        Mới nhất
        Thị trường nông sản 22/10: Cà phê và lúa gạo biến động, sầu riêng phân hóa
        • Mặc định

        POWERED BY ONECMS - A PRODUCT OF NEKO