Thị trường nông sản 20/7: Cà phê và hồ tiêu bình ổn, lúa gạo xuất khẩu giữ vị thế cạnh tranh
Sáng 20/7, thị trường nông sản ghi nhận sự ổn định tại các nhóm hàng xuất khẩu chủ lực như cà phê, hồ tiêu và lúa gạo. Trong khi đó, giá sầu riêng có sự chênh lệch lớn giữa các vùng trồng, còn thị trường heo hơi miền Nam bắt đầu ghi nhận nhịp tăng nhẹ.
Thị trường cà phê duy trì chuỗi ngày tăng giá
Thị trường nông sản sáng nay chứng kiến giá cà phê tại các vùng sản xuất trọng điểm tiếp tục giữ được sự ổn định sau nhịp tăng từ 1.500 đến 1.600 đồng/kg trước đó.
Theo giacaphe.com, mức thu mua trung bình toàn vùng duy trì ở 97.800 đồng/kg.
Cụ thể, khu vực Đắk Nông (nay thuộc Lâm Đồng) tiếp tục là nơi dẫn đầu bảng giá thu mua cà phê với 97.900 đồng/kg.
Đắk Lắk và Gia Lai cùng được thương lái thu mua ở mức 97.700 đồng/kg. Riêng Lâm Đồng (cũ) ghi nhận mức thấp nhất khu vực với 97.200 đồng/kg.
Trên thị trường quốc tế, khép lại phiên giao dịch hôm qua, giá cà phê Robusta trên sàn London kỳ hạn tháng 7/2026 tăng mạnh 110 USD/tấn, vươn lên 3.977 USD/tấn. Kỳ hạn tháng 9 tăng 80 USD/tấn lên 3.877 USD/tấn.
Sàn New York cũng ghi nhận sắc xanh khi cà phê Arabica tháng 7/2026 tăng 7,15 cent/lb, đạt mức 328,45 cent/lb.

Hồ tiêu nội địa ổn định, tiêu trắng xuất khẩu chốt giá tốt
Cập nhật từ giatieu.com cho thấy, mặt bằng thu mua tiêu xô trong nước sáng nay tiếp tục dao động trong khoảng 137.000 đến 140.500 đồng/kg, không có sự thay đổi so với phiên trước.
Khu vực Đắk Nông (nay thuộc Lâm Đồng) tiếp tục là khu vực ghi nhận mức giá cao nhất đạt 140.500 đồng/kg. Theo sau là Đắk Lắk với 140.000 đồng/kg.
Khu vực Bà Rịa - Vũng Tàu (nay thuộc TP.HCM) duy trì mức thu mua 137.500 đồng/kg. Gia Lai và Đồng Nai cùng nằm ở nhóm thấp nhất thị trường với 137.000 đồng/kg.
Trên thị trường quốc tế, giá tiêu Ấn Độ đi ngang với loại GARBLED quy đổi đạt 202.098 đồng/kg, tiêu UNGARBLED quy đổi ở mức 196.437 đồng/kg và loại Gram/lít đạt 193.607 đồng/kg.
Giá tiêu đen thế giới ghi nhận mức 6.773 USD/tấn đối với hàng Indonesia, 5.800 USD/tấn đối với tiêu Brazil loại ASTA và 9.300 USD/tấn cho tiêu Malaysia.
Riêng tiêu đen xuất khẩu của Việt Nam loại 500 g/l và 550 g/l đang được chào bán lần lượt ở mức 5.850 USD/tấn và 5.950 USD/tấn.
Ở phân khúc tiêu trắng, Việt Nam đang chào bán với giá 12.200 USD/tấn, vượt trội so với mức 9.336 USD/tấn của Indonesia và 8.200 USD/tấn của Malaysia.
Thị trường nông sản sáng nay ghi nhận giá lúa gạo ổn định, xuất khẩu vẫn giữ vị thế cạnh tranh
Theo khảo sát từ một số nguồn và luagaoviet.com, giá lúa gạo tại ĐBSCL sáng nay không có nhiều biến động.
Cụ thể, lúa tươi Đài Thơm 8 được thu mua từ 6.850 đến 7.000 đồng/kg, lúa OM 18 từ 6.800 đến 7.000 đồng/kg. Lúa OM 5451 giao dịch ở mức 6.400 đến 6.500 đồng/kg.
Lúa OM 34 từ 6.100 đến 6.300 đồng/kg và lúa IR 50404 ở mức 6.100 đến 6.200 đồng/kg.
Thị trường gạo nguyên liệu cũng giữ nguyên mặt bằng giá. Gạo IR 504 giao dịch từ 9.200 đến 9.300 đồng/kg. Gạo Đài Thơm 8 từ 9.200 đến 9.400 đồng/kg.
Gạo CL 555 và OM 5451 cùng dao động từ 9.500 đến 9.600 đồng/kg, gạo OM 18 từ 8.700 đến 8.850 đồng/kg.
Hai dòng gạo xuất khẩu OM 380 và Sóc Thơm neo ở mức 7.500 đến 7.600 đồng/kg.
Về xuất khẩu, gạo Việt Nam tiếp tục duy trì sức cạnh tranh trên thị trường quốc tế với thị trường nhập khẩu lớn nhất là Philippines.
Cụ thể, gạo Jasmine chào bán ở mức 513 đến 517 USD/tấn. Gạo thơm 5% tấm dao động từ 510 đến 520 USD/tấn. Gạo 100% tấm từ 348 đến 352 USD/tấn.
Còn gạo 5% tấm của Thái Lan hiện được chào bán ở mức 478 đến 482 USD/tấn, gạo Ấn Độ giao dịch từ 350 đến 354 USD/tấn.
Sầu riêng phân hóa sâu sắc theo chất lượng và vùng trồng
Thị trường sầu riêng sáng nay tiếp tục ghi nhận sự chênh lệch rõ rệt.
Khảo sát tại một số kho thu mua và giasaurieng.net cho thấy, tại Đồng Nai và Đắk Lắk, sầu riêng Thái loại A được thu mua phổ biến từ 70.000 đến 73.000 đồng/kg.
Tại ĐBSCL sầu riêng Thái loại A dao động từ 60.000 đến 62.000 đồng/kg, loại B từ 40.000 đến 41.000 đồng/kg.
Đối với giống Ri6 tại khu vực này có giá 35.000 đồng/kg cho loại A và 20.000 đồng/kg cho loại B. Tây Ninh thu mua sầu Thái loại A ở mức 66.000 đến 67.000 đồng/kg, loại B ở mức 46.000 đồng/kg.
Hiện Đồng Nai là một trong những địa phương có giá tốt nhất. Sầu riêng Thái loại A từ 70.000 đến 72.000 đồng/kg, loại B khoảng 52.000 đồng/kg, hàng lỗi 57.000 đồng/kg.
Giống Ri6 loại A tại đây đạt 40.000 đồng/kg, loại B 25.000 đồng/kg. Đặc biệt, giống cao cấp Black Thorn loại A chốt giá 110.000 đồng/kg và loại B ở mức 90.000 đồng/kg.
Tại Đắk Lắk, sầu riêng Thái loại A từ 71.000 đến 73.000 đồng/kg, hàng lỗi loại A thu mua mức 53.000 đến 55.000 đồng/kg. Sầu Ri6 loại A dao động từ 35.000 đến 40.000 đồng/kg. Giống Musang King loại A giao dịch ở mức 69.000 đồng/kg.
Còn tại Gia Lai ghi nhận sầu Thái loại A từ 65.000 đến 68.000 đồng/kg, loại B và hàng lỗi cùng quanh mức 45.000 đồng/kg.
Heo hơi miền Nam nhích giá nhẹ
Thị trường heo hơi sáng nay ghi nhận diễn biến tích cực tại miền Nam khi Tây Ninh, Vĩnh Long và Cần Thơ cùng tăng 1.000 đồng/kg, lên mức 63.000 đồng/kg.
Trong đó, Đồng Nai vẫn là địa phương có giá cao nhất miền Nam với 64.000 đồng/kg. TP.HCM cũng đạt mức 63.000 đồng/kg. Các tỉnh Đồng Tháp, An Giang và Cà Mau giao dịch ở mức 62.000 đồng/kg, mức thấp nhất toàn quốc.
Tại miền Bắc, giá thu mua duy trì ổn định từ 66.000 đến 67.000 đồng/kg. Mức 67.000 đồng/kg cao nhất cả nước xuất hiện tại Thái Nguyên, Bắc Ninh, Hà Nội và Hưng Yên. Các địa phương còn lại chốt ở mức 66.000 đồng/kg.
Còn tại khu vực miền Trung và Tây Nguyên tiếp giá thu mua hiện dao động từ 62.000 đến 65.000 đồng/kg. Thanh Hóa và Nghệ An cao nhất khu vực ở mức 65.000 đồng/kg. Hà Tĩnh, Quảng Trị, Huế và Lâm Đồng đạt 64.000 đồng/kg. Đà Nẵng, Quảng Ngãi, Gia Lai và Đắk Lắk neo ở mức 63.000 đồng/kg, trong khi Khánh Hòa thấp nhất với 62.000 đồng/kg.
Giá cao su quốc tế biến động trái chiều
Thị trường cao su trong nước sáng nay vẫn duy trì trạng thái ổn định.
Cụ thể, Công ty Cao su Phú Riềng thu mua mủ tạp 390 đồng/DRC, mủ nước 420 đồng/TSC.
Công ty Cao su Mang Yang mua mủ nước từ 458 đến 463 đồng/TSC, mủ đông tạp từ 404 đến 459 đồng/DRC.
Tại Công ty Bình Long, mủ nước nhà máy đạt 540 đồng/TSC/kg, thu mua tại đội sản xuất là 530 đồng/TSC/kg, mủ tạp 18.000 đồng/kg.
Công ty Bà Rịa thu mua mủ nước 420 đồng/TSC/kg, mủ đông 14.600 đồng/kg, mủ nguyên liệu 18.100 đồng/kg.
Trên thị trường quốc tế, Sàn Giao dịch Hàng hóa Tokyo ghi nhận hợp đồng tháng 7/2026 giảm 2,10 Yên/kg xuống còn 425,90 Yên/kg. Kỳ hạn tháng 8/2026 giảm 6 Yên/kg về mức 422,50 Yên/kg do giá butadiene tại Trung Quốc hạ nhiệt.
Ngược lại, Sàn Kỳ hạn Thượng Hải tăng điểm, hợp đồng tháng 7/2026 tăng 95 Nhân dân tệ/tấn lên 16.860 Nhân dân tệ/tấn. Kỳ hạn tháng 8/2026 tăng 115 Nhân dân tệ/tấn lên 16.910 Nhân dân tệ/tấn.
Tại Thái Lan, cao su kỳ hạn tháng 8/2026 duy trì ở mức 92,7 Baht/kg. Còn tại sàn Singapore chứng kiến hợp đồng TSR20 giảm về vùng 214 đến 215 cent/kg.


